vanban.org

Quyết định 11/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/12/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T, tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Trọng T phải chịu 300.000đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí theo biên lai số 05058 ngày 19/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V. (Xác nhận anh T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm). … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Viec dan sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T, tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2018/QĐST-VDSViệt Yên, ngày 25 tháng 12 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Văn Hợp.

Thư ký phiên họp: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 15/2018/TLST-VDS ngày 19 tháng 7 năm 2018 về việc Yêu cầu tuyến bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số: 13/2018/QĐST ngày 10 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

-Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1971.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

Hiện không rõ địa chỉ ở đâu.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu anh Nguyễn Trọng T trình bày: Anh Nguyễn Trọng T và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau tháng 11 năm 1992, trước khi cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện V. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống với nhau ngay, có thời gian hòa thuận và có 02 con chung. Trong quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc vì nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau, chị T đã bỏ nhà đi từ tháng 3/2013 cho đến nay không quay lại chung sống cùng anh T nữa. Từ khi chị T bỏ đi anh T đã đi tìm chị T nhiều nơi nhưng không biết chị T ở đâu và cũng không liên lạc được với chị T. Nay anh T đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phát biểu quan điểm tại phiên họp: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã làm đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, ĐiÒu 367, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bé luËt tè tông d©n sù; kho¶n 1 ĐiÒu 68 - Bé luËt d©n sù; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí:

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T, tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Anh Nguyễn Trọng T phải chịu lệ phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên hop, Tòa án nhân dân huyện V nhận định:

Anh Nguyễn Trọng T và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 12/11/1992. Anh T có quyền yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị T.

Năm 2013 do vợ chồng có mâu thuẫn nên chị Nguyễn Thị T đã bỏ nhà đi biệt tích, anh Nguyễn Trọng T đã tìm kiếm chị T bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có thông tin gì về chị T, không ai biết chị T ở đâu và làm gì.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện V đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Anh Nguyễn Trọng T đã thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị T trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể nhắn tìm chị Nguyễn Thị T trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào hồi 11 giờ 50 phút các ngày 10, 11, 12/ 8/2018 và nhắn tìm chị Nguyễn Thị T trên báo Công lý tại các số báo 62, 63, 64 ra vào các ngày 03, 08 và 10 /8/2018. Đến nay chị T vẫn không quay về địa phương, không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị T còn sống hay đã chết. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã hết. Vì vậy, yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T là có căn cứ, cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T, tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Trọng T phải chịu lệ phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, ĐiÒu 367, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bé luËt tè tông d©n sù; kho¶n 1 ĐiÒu 68 - Bé luËt d©n sù; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí:

- Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T, tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Trọng T phải chịu 300.000đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí theo biên lai số 05058 ngày 19/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V. (Xác nhận anh T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm).

-Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ