vanban.org

Quyết định 11/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/08/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H.

Hủy bỏ quyết định tuyên bố anh Phạm Văn H là công dân mất tích trong phần quyết định của bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản của anh Phạm Văn H được khôi phục theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "anh H yêu cầu hủy quyết định tuyên bố mất tích đối"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2018/QĐDS - ST
Ngày: 17-8-2018
“V/v hủy bỏ quyết định tuyên bố
một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ toạ phiên họp: Bà Tống Thị Kim Phượng - Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Nhung – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018 về yêu cầu “Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 28/2018/QĐPH-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Đội 8, thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định (có mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú: Số nhà 3C 3 tầng số 5 P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (vắng mặt không có lý do).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Phạm Văn H yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố anh là Phạm Văn H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Đội 8, thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định là người mất tích. Về các quyết định của bản án ly hôn, anh không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố N nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị H đã được Tòa án niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý việc dân sự, giấy triệu tập và quyết định mở phiên họp nhưng chị H vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, xét yêu cầu của anh H chỉ yêu cầu hủy quyết định tuyên bố anh là công dân mất tích nên Tòa án căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành phiên họp để giải quyết yêu cầu của anh H.

Về nội dung: Trong quá trình chung sống anh H và chị H có xảy ra nhiều mâu thuẫn, kinh tế khó khăn nên năm 2001 anh H đã đi làm ăn xa không liên lạc về cho gia đình mà chỉ để lại cho chị H lá đơn ly hôn. Sau đó chị Trần Thị H (vợ anh H) có đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình nên tại Bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố N đã tuyên bố anh Phạm Văn H là công dân mất tích và xử cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Trần Thị H. Năm 2005 anh H đã trở về địa phương tại Số nhà 3C 3 tầng số 5 P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, tỉnh Nam Định thì được biết chị H đã bán nhà và làm thủ tục ly hôn anh. Ngày 09/6/2017 anh H xin cấp trích lục bản án ly hôn anh mới biết Tòa án tuyên bố anh là người mất tích. Hiện nay anh Phạm Văn H đã trở về sinh sống, đăng ký hộ khẩu tại đội 8, thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định và làm căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/7/2017. Vì vậy, căn cứ vào Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự cần chấp nhận yêu cầu của anh H về việc hủy bỏ quyết định tuyên bố anh Phạm Văn H là công dân mất tích trong bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định. Các quan hệ về nhân thân và tài sản của anh H được khôi phục theo quy định của pháp luật. Quyết định ly hôn tại bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định vẫn có hiệu lực pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn H phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị như sau: Về trình tự, thủ tục: Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H, ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố anh Phạm Văn H là công dân mất tích trong bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 70 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 369 và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn H.

2. Hủy bỏ quyết định tuyên bố anh Phạm Văn H là công dân mất tích trong phần quyết định của bản án số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

Các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản của anh Phạm Văn H được khôi phục theo quy định của pháp luật.

Quyết định xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng và anh Phạm Văn H tại bản án sơ thẩm số 341/DSST ngày 12-12-2003 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định vẫn có hiệu lực pháp luật.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Phạm Văn H đã nộp tại biên lai số 0000131 ngày

10-7-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định

4. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn H có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Cỡ chữ