- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với Bùi Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 23 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2018/QĐ-TA | P, ngày 10 tháng 7 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P-TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Vũ Thị Phượng
2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Duyên
Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 29 tháng 6 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Bùi Ngọc H
Giới tính: Nam
Sinh ngày 18 tháng 4 năm 1994.
CMND số: 285394054
Ngày cấp: 10/7/2013
Nơi cấp: Bình Phước
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 8/12
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Tân Lực, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước
Nghề nghiệp: Không
Tiền án, tiền sự: Không
Con ông Bùi Ngọc Y, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959
Bùi Ngọc H có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Phòng Nội vụ - Lao động, thương binh và xã hội huyện P, tỉnh Bình Phước: Ông Nguyễn Quốc Cường
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước: Bà Huỳnh Thị Dạ Lan
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị:
5. Những người khác: Đại diện Ủy ban nhân dân xã B, huyện P: Ông Nguyễn Hoàng Nhân- Phó trưởng Công an xã B (Giấy ủy quyền số 05/UQ ngày 10/7/2018).
NHẬN THẤY:
Bùi Ngọc H bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2014. Năm 2017 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Loại ma túy mà H sử dụng là ma túy tổng hợp dạng heroin, hình thức sử dụng là chích.
Ngày 12/5/2017, Uỷ ban nhân dân xã B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường theo Quyết định số 102/QĐ-UBND, thời gian áp dụng là 03 tháng. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Bùi Ngọc H không tu trí làm ăn mà vẫn thường xuyên lén lút sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/6/2018, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện P phối hợp Công an xã B đưa đối tượng Bùi Ngọc H về trụ sở công an xã làm việc, đồng thời phối hợp cùng trạm y tế xã thử test nhanh nước tiểu của H, kết quả dương tính với ma túy tổng hợp (heroin). Đối tượng Bùi Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Vì vậy, ngày 11/6/2018, Hội đồng tư vấn xã B tiến hành họp xét nhất trí đưa Bùi Ngọc H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng. Qua họp xét gia đình Bùi Ngọc H đồng ý đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 22/6/2018, Phòng Nội vụ - Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P, tỉnh Bình Phước đề nghị Tòa án nhân dân huyện P xem xét áp dụng biện xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Bùi Ngọc H.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Nội vụ - Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P có ý kiến: Bùi Ngọc H đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục tại địa phương vẫn không tự cai nghiện được nên cần đưa Bùi Ngọc H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 (hai mươi bốn) tháng để Bùi Ngọc H có đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.
Đại diện Ủy ban nhân dân xã Bcó ý kiến: Đối tượng Bùi Ngọc H là đối tượng nghiện ma túy lâu năm tại địa phương. Qua theo dõi, giám sát của địa phương, đối tượng H có nghiện ma túy nhưng H không có các tệ nạn như trộm cắp, gây rối. Do đối tượng đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn không có kết quả nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một khoảng thời gian đủ để H đoạn tuyệt được với ma túy.
Đối tượng Bùi Ngọc H có ý kiến: Đối tượng hiện chung sống cùng mẹ già, có chăm sóc, phụ giúp gia đình. Mặc dù, thời gian nghiện ma túy đã lâu nhưng không quậy phá, quấy rối tại địa phương. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng mức thời hạn cai nghiện bắt buộc thấp để cho đối tượng có thời gian, điều kiện phụ giúp mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Qua kiểm sát giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính 2014.
Về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Bùi Ngọc H được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường vào ngày 13/8/2017. Ngày 07/6/2018, Bùi Ngọc H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Điều 94, 95, 96, 105 Luật xử phạt vi phạm hành chính thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Quốc Cường về việc đề nghị Tòa án ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, xét thấy:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Ngọc H được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4; khoản 1 Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016; khoản 1 Điều 5 Thông tư 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bùi Ngọc H là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự và nhận thức được rằng ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép. Nhưng H để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà H vẫn bất chấp pháp luật tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy mặc dù đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, Bùi Ngọc H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Về tình tiết tăng nặng: Không
Hành vi của Bùi Ngọc H không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện để Bùi Ngọc H có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Ngọc H với thời gian 18 (Mười tám tháng) tháng là phù hợp.
Từ những nhận định nêu trên, Tòa án nhân dân huyện P chấp nhận đề nghị của Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 95, 96, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính
Các Điều 9, 15, 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về “trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Ngọc H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Áp dụng Điều 30; Điều 31; Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Bùi Ngọc H được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ quan Công an huyện P; Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P và Bùi Ngọc H chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng NVLĐ-TB và XH huyện; - Công an huyện P; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND xã B; - Bùi Ngọc H; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Vũ Thị Phượng |