vanban.org

Quyết định 106/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị Hoàng L.

Tuyên bố ông Lê Thanh H, năm sinh 1947 có nơi cư trú cuối cùng tại số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất tích kể từ ngày 01 tháng 5 năm 1977. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Hoàng L được miễn nộp tiền tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "mở phiên họp"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị Hoàng L.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 106/2021/QĐST-DSTân Bình, ngày 29 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Nhu

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp: Bà Lê Trương Hà Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 302/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2020 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 10/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Hoàng L, năm sinh 1953; Địa chỉ: Số 888/67/55C đường Q, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh N, năm sinh 1977; Địa chỉ: Số 888/67/55C đường Q, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Võ Thị Hoàng L (viết tắt bà L) trình bày: Bà và ông Lê Thanh H (viết tắt ông H) sống chung với nhau vào năm 1976 tại địa chỉ số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, bà và ông H có một con chung tên Lê Thanh N, ngày sinh 18/4/1977. Khoảng cuối năm 1976 ông H bỏ nhà đi đâu không rõ, bà và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông H. Do đó, bà yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố ông Lê Thanh H, năm sinh 1947, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh N (viết tắt ông Nam) trình bày: Ông là con ruột của bà Võ Thị Hoàng L và ông Lê Thanh H. Ông H bỏ nhà đi từ lúc ông còn nhỏ, do đó ông không biết ông H đi đâu, hiện còn sống hay đã chết. Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà L, ông thống nhất và không có yêu cầu gì trong vụ việc này.

Tại phiên họp:

Bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích.

Ông N thống nhất với yêu cầu của bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại các Điều 365, 366, 388, 392 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự. Tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Bà L nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên bố mất tích đối với ông H. Ngày 21/7/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

Căn cứ kết quả xác minh ngày 08/4/2021 Công an Phường 8, quận Tân Bình xác nhận rằng: Không có thông tin lưu trữ việc đăng ký hộ khẩu thường trú hay đăng ký tạm trú của ông H tại địa chỉ số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, qua làm việc với ông Trương R là tổ trưởng tổ dân phố 51 cho biết ông H có thực tế cư ngụ tại nhà số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976 trong thời gian khoảng 3 đến 4 tháng sau đó bỏ đi đâu không rõ.

Ngày 21/7/2020, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyết bố mất tích và đã đăng thông tin tìm kiếm trong 3 số liên tiếp ngày 28, 29, 30/7/2020 (Báo Đại đoàn kết) và phát trên đài phát thanh 3 số liên tiếp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H là người mất tích. Đây là yêu cầu dân sự về “Tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người bị yêu cầu là ông H có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Theo lời trình bày của bà L thì giữa bà L và ông H chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Hai ông bà có một con chung tên Lê Thanh N, năm sinh 1977. Theo trích lục khai sinh số 450/TLKS-BS ngày 11/5/2020 của Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cấp cho ông Nam thì thể hiện có mẹ là bà Võ Thị Hoàng L và cha là ông Lê Thanh H. Khoảng cuối năm 1976, ông H bỏ nhà đi đâu không rõ và bà không biết tin tức của ông H từ đó đến nay.

Căn cứ Phiếu xác minh của Tòa án nhân dân quận Tân Bình tại Công an Phường 8, quận Tân Bình thì không có thông tin lưu trữ việc đăng ký hộ khẩu thường trú hay đăng ký tạm trú của ông Lê Thanh H tại địa chỉ: số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, qua làm việc với ông Trương R là tổ trưởng tổ dân phố 51 cho biết ông Lê Thanh H có cư ngụ tại nhà số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976 trong thời gian khoảng 3 đến 4 tháng sau đó bỏ đi đâu không rõ.

Ngày 21/7/2020, Tòa án nhân dân quận Tân Bình ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Lê Thanh H và đã thực hiện việc đăng tin trên Báo Đại đoàn kết, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng thực hiện thông báo nhưng vẫn không có tin tức gì của ông H.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định ông H là người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết nên được xác định người đó mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H mất tích vào thời điểm năm 1976, sau đó khoảng 3 đến 4 tháng nhưng không xác định được cụ thể thời gian mất tích. Do vậy, Tòa án xác định thời điểm mất tích của ông H là ngày là ngày 01/5/1977 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết việc dân sự là có căn cứ nên chấp nhận

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà L, năm sinh 1953. Theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi quy định: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” và theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bà L là đối tượng được miễn nộp án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm năm 2015.

Áp dụng Điều 2 Luật Người cao tuổi.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Võ Thị Hoàng L.

Tuyên bố ông Lê Thanh H, năm sinh 1947 có nơi cư trú cuối cùng tại số 204/73/63/6 đường Q, Phường M (nay là số 888/67/55C đường Q Phường Y), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất tích kể từ ngày 01 tháng 5 năm 1977.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Hoàng L được miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Hoàn lại cho bà L số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí do bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0016690 ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Hoàng L và ông Lê Thanh N được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ