- Tranh chấp gì? "PHAM HOANG L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Hoàng L.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 105/QĐ-TA | Thủ Đức, ngày 20 tháng 4 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương Châu
2. Thư ký phiên họp: Bà Lưu Thị Ngọc Hương
Ngày 20 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp giải quyết hồ sơ thụ lý số 91/2018/TLST-XLHC ngày 16/4/2018 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 88/QĐ-TA ngày 16 tháng 4 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Phạm Hoàng L; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 02/10/1993; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật;
Quê quán: Thành phố Hồ Chí Minh;
Hộ khẩu thường trú: Đường N, khu phố B, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: Đường N, khu phố B, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nghề nghiệp: Không;
Tiền án; tiền sự: Theo tài liệu hồ sơ thể hiện:
Ngày 03/11/2010, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 04/5/2011, bị Công an quận T bắt. Ngày 16/8/2011, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ngày 02/01/2012, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Ngày 24/4/2012, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 23/9/2015, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Con ông: Phạm Anh D và bà: Phạm Thị N.
(Ông Phạm Hoàng L vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt H – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức.
, Thành phố Hồ Chí Minh
: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 03/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 343/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với ông Phạm Hoàng L, thời hạn áp dụng là 06 tháng, kể từ ngày 03/10/2017.
Ngày 28/3/2018, ông Phạm Hoàng L tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đưa ông Phạm Hoàng L đến Trạm y tế phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét nghiệm ma túy. Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 28/3/2018 xác định ông Phạm Hoàng L dương tính với chất ma túy.
Ngày 28/3/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 177/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với ông Phạm Hoàng L.
Ngày 13/4/2018, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức đã có văn bản số 362/LĐTB đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông Phạm Hoàng L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
Đại diện của cơ quan đề nghị giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Hoàng L trong thời gian 24 tháng.
Người bị đề nghị ông Phạm Hoàng L vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định. Đồng thời, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, xét thấy:
Tại phiên họp, ông Phạm Hoàng L vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính ngày 28/3/2018 của Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phạm Hoàng L đã có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Quyết định số 177/QĐ-UBND ngày 28/3/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phạm Hoàng L bị chấm dứt thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và có nơi cư trú ổn định theo Phiếu yêu cầu xác minh cư trú ngày 28/3/2018. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức là có cơ sở.
Xét thấy, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Hoàng L đã được thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền, thời hạn theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Xét, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông Phạm Hoàng L không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn vi phạm trật tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Phạm Hoàng L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để ông Phạm Hoàng L được cai nghiện, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 và Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ Điều 9; Điều 19; khoản 2 Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 4; Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Phạm Hoàng L.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu để điều trị cắt cơn, giải độc: Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).
Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Thời gian chấp hành là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Ông Phạm Hoàng L có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 3 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Công an quận Thủ Đức, Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu và Cơ sở cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKSND quận Thủ Đức; - Công an quận T; - Công an phường T; - Ủy ban nhân dân phường T; - Phòng LĐTB và XH quận Thủ Đức; - Cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu; - Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội Phú Văn; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Phương Châu |