- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Trần Văn Sĩ xin ly hôn tranh chấp con với bà Nguyễn Kim Thảo"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trần Văn S và bà Nguyễn Kim T.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 -VL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 104/2025/QĐST-HNGĐ | VL, ngày 17 tháng 09 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 09 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: ông Trần Văn S, sinh năm 1977; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp Đ, xã T, tỉnh VL.
Bị đơn: bà Nguyễn Kim T, sinh năm: 1984; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: ấp Đ, xã T, tỉnh VL.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 09 năm 2025.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 09 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trần Văn S và bà Nguyễn Kim T.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: ông Trần Văn S và bà Nguyễn Kim T đều không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: ông Trần Văn S và bà Nguyễn Kim T thống nhất như sau:
Ông Trần Văn S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người con chung của ông với bà T là cháu Trần Gia H, sinh ngày 06/12/2013. Ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận này phù hợp với nguyện vọng của con chung.
Riêng cháu Trần Gia B đã trưởng thành, đủ điều kiện nuôi sống bản thân, không bị bệnh tật nên ông S, bà T không yêu cầu Tòa giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, bà T và ông S có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm là: 150.000đồng. Ông ông Trần Văn S tự nguyện nộp 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền ông S đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0002585, ngày 9/9/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh VL được khấu trừ sang tiền án phí. Hoàn trả cho ông Sĩ số tiền chênh lệch còn lại là 150.000đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN LÊ THỊ THÚY HẰNG |