vanban.org

Quyết định 104/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 01/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135,khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dang Van Quyet - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:104/2022/HS-ST
Ngày 01-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Trần Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2022/HSST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Văn Q, sinh ngày 11/6/1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Quyết định số 02/QĐ-TA ngày 08/11/2016 Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Văn Q. Thời gian 24 tháng (đã xóa). Ngày 08/7/2021 Chủ tịch ủy ban nhân dân xã H, huyện Kiến Thụy ra Quyết định áp dụng biện pháo giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đặng Văn Q, thời hạn áp dụng 03 tháng, kể từ ngày 08/7/2021; Tạm giữ ngày 18/7/2022; tạm giam ngày 21/7/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 18/7/2022 Đặng Văn Q điều khiển xe moto biển kiểm soát 15F1-335.87 đi từ nhà ở H, Kiến Thụy đến khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại một ngách nhỏ trong ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, Q gặp một nữ giới không quen biết đang đứng ở trong ngách. Q hỏi và đưa cho người nữ giới 200.000 đồng để mua 01 gói Hêroin. Người nữ giới nhận tiền và đưa cho Q 01 gói ma túy bọc ngoài nilong màu vàng. Q nhận gói ma túy và cho vào miệng ngậm rồi đi ra khu vực nhà vệ sinh bãi gửi xe miễn phí số 125 Nguyễn Đức Cảnh để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Cát Dài kiểm tra. Thấy vậy Q thả gói ma túy xuống đất thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Q 01 gói nilong trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, sau đó đã đưa Q cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an phường Cát Dài lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 354/KL-KTHS (MT) ngày 25/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại Hêroine.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân Đặng Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì thư theo niêm phong số 354MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 15F1-33587, tài liệu điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Trung H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Anh H cho Q mượn xe nhưng không biết Q sử dụng để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh H quản lý sử dụng.

Đối với người nữ giới bán ma túy cho Đặng Văn Q chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân thành phố Hải Phòng không có cơ sở điều tra.

Bản Cáo trạng số 112/CT-VKSLC ngày 11/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Đặng Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Đặng văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp tang vật chứng thu giữ và kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đặng Văn Q với mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 354MT/PC09 đựng vỏ bao gói của mẫu vật sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, tại khu vực nhà vệ sinh của bãi gửi xe miễn phí số 125 Nguyễn Đức Cảnh, Cát Dài, Lê Chân, Hải Phòng, Đặng Văn Q đã bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam ma túy là loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác nên HĐXX xét thấy cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên nhân thân bị cáo đã có 02 tiền sự về việc đã được áp dụng các biện pháp cai nghiện ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục tái nghiện. Qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, cần phải bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa xã hội chung đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xét lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì được niêm phong trong phong bì số 354MT/PC09 là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đặng Văn Q 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 7 năm 2021.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 354MT/PC09 đựng lượng ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135,khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ