vanban.org

Quyết định 104/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy P.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy T1, sinh ngày 20/7/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục kể từ tháng 7 năm 2021 cho đến khi cháu T1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Giao cháu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Huy P"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy P.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 104/2021/QĐST-HNGĐTP. N, ngày 26 tháng 07 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 143/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 20, ngõ 81, đường L, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Địa chỉ hiện nay: Số nhà 22, ngõ 176, đường N, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà 20, ngõ 81, đường L, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 55, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí phí Tòa án;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 16 tháng 07 năm 2021.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 16/07/2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Huy P.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy T1, sinh ngày 20/7/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục kể từ tháng 7 năm 2021 cho đến khi cháu T1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Giao cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 19/12/2017 cho anh Nguyễn Huy P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 7 năm 2021 cho đến khi cháu L trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác về quyền nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi bên nuôi một con chung nên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Khi cần các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố N theo biên lai thu số AA/2021/0000599 ngày 08/07/2021. Chị T được trả lại số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ