- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa Nguyễn Thị Kiều T và Phạm Bùi Trọng N"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Phạm Bùi Trọng N.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 102/2022/QĐST-HNGĐ | An Nhơn, ngày 24 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Anh Phạm Bùi Trọng N, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu vực K, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, 58, 81, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 14 tháng 01 năm 2022.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 14 tháng 01 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Phạm Bùi Trọng N.
2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
2.1. Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Phạm Bùi Trọng N thống nhất thỏa thuận giao hai con chung tên Phạm Nguyễn Minh T1, sinh ngày 14/01/2013; Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/6/2016 cho anh Phạm Bùi Trọng N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung tên Phạm Nguyễn Minh H, sinh ngày 04/12/2018 cho chị Nguyễn Thị Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Phạm Bùi Trọng N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, các bên có quyền yêu cầu Tòa giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con
2.2. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Phạm Bùi Trọng N không yêu cầu Tòa giải quyết.
2.3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều T tự nguyện chịu 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004999 ngày 23/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Kiều T 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - CC THADS TX A; - VKSND thị xã A; - UBND phường B; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Ái Phượng |