vanban.org

Quyết định 102/2022/QĐ-TA

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 31/08/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Thu N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Phạm Thị Thu N có quyền khiếu nại; Phòng Lao động-Thương… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Thu N."
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Thu N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 102/2022/QĐ-TAVũng Tàu, ngày 31 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Ngô Thị Phượng.

2. Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Văn Vững.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại Cơ sở tư vấn và điều trị cai nghiện, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 105/QĐ-TA ngày 26 tháng 8 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Phạm Thị Thu N, sinh năm: 1986; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký thường trú tại: Số 72 đường H, Phường B, thành phố V; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Tiền án, tiền sự: Không; Cha Phạm Văn Đ và mẹ Nguyễn Thị Bích L. (Có mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngũ Thế Huy - Phòng Lao động,Thương binh và Xã hội thành phố Vũng Tàu.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu: Bà Trần Thùy Linh

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 05-8-2022, Phạm Thị Thu N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 06-8-2022 bị Công an Phường 11, thành phố Vũng Tàu phối hợp cùng với Cơ quan y tế tiến hành kiểm tra và xét nghiệm xác định N là người nghiện ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Ý kiến đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Vũng Tàu: Ngày 05-8-2022, N bị Công an Phường 11, thành phố Vũng Tàu lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo tài liệu có trong hồ sơ, N khai sử dụng ma túy loại Methamphetamine từ năm 2019 đến nay, sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 05-8-2022; Qua xác minh, N không có nơi cư trú ổn định, trên cơ sở đó Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Vũng Tàu đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa N vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời gian là 18 tháng.

- Ý kiến của người bị đề nghị: Phạm Thị Thu N thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình và đã sử dụng ma túy từ năm 2016, sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 05-8-2022, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine, hình thức sử dụng hút. Tại phiên họp N xin xem xét giảm thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý đối với Phạm Thị Thu N là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người bị nghiện là cần thiết, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Đại diện cơ quan đề nghị, xem xét tính chất mức độ vi phạm quyết định mức thời gian đưa N vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định.

XÉT THẤY:

1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Thời hiệu giải quyết: Ngày 05-8-2022, N bị Công an Phường 11, thành phố Vũng Tàu lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 31-8-2022, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N là còn trong thời hiệu theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định N là người nghiện ma túy, N không có nơi cư trú ổn định, N không đăng ký cai nghiện tự nguyện, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị và thực hiện đầy đủ, trình tự quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Theo lời khai có trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, N đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05-8-2022 của Trạm y tế Phường 11, thành phố Vũng Tàu kết luận N là người nghiện ma túy loại Methamphetamine. Do đó, có đủ căn cứ kết luận N đã vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

3. Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho N.

4. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị:

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: N là người nghiện ma túy, N sử dụng ma túy từ năm 2016, N biết rõ ma túy loại Methamphetamine là chất gây nghiện, có sức tàn phá sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình, xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, N nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N là xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để cai nghiện, học tập và lao động.

5. Lý do áp dụng:

Lý do áp dụng: Phòng lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Vũng Tàu đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 27, Điều 32 Luật phòng chống ma túy, Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và điểm b khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 2, 3, 19, 20, 22, 23, 24, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thị Thu N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định này, Phạm Thị Thu N có quyền khiếu nại; Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố Vũng Tàu có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét lại quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Vũng Tàu; Công an thành phố Vũng Tàu có trách nhiệm thi hành quyết định này. * Nơi nhận:

Cỡ chữ