vanban.org

Quyết định 101/2018/QĐ-TA

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, địa chỉ: ấp Tân Lợi, xã T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 101/2018/QĐ-TAH, ngày 28 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà LÊ THỊ DUYÊN

2. Thư ký phiên họp: Bà PHẠM THỊ HỒNG NHUNG

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo hồ sơ thụ lý số: 105/2018/TL-VHC ngày 22 tháng 11 năm 2018 và Quyết định mở phiên họp số: 100/2018/QĐ-TA ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H đối với:

Họ và tên: NGUYỄN THANH S (Tý Nhỏ), sinh ngày 10/02/1987; giới tính: Nam; CMND số: 072087001733 do Cục C72 cấp ngày 15/8/2016; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 4/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà 77, ấp L, xã B, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn Đặng, sinh năm 1962 và bà Dương Thị Vân, sinh năm 1963.

Tiền án: không có.

Tiền sự:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 51/QĐ-XPHC ngày 03/3/2017 của Công an xã B, huyện H, tỉnh T phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 03/3/2017.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 155/QĐ-XPHC ngày 22/9/2017 của Công an xã B, huyện H, tỉnh T phạt số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 19/10/2017.

- Quyết định số: 172/QĐ-UBND ngày 25/9/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T về việc quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, thời gian 06 tháng kể từ ngày Quyết định có hiệu lực.

- Quyết định số: 194/QĐ-UBND ngày 06/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời gian 03 tháng kể từ ngày 06/11/2017 đến ngày 06/02/2018. Chủ tịch UBND xã B đã ban hành giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số: 24/GCN-UBND ngày 06/02/2018.

Anh Nguyễn Thanh S vắng mặt không có lý do.

* Có sự tham gia của:

1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T (Văn bản ủy quyền số: 96/GUQ-P.LĐTBXH ngày 23/11/2018):

Ông Lâm Hữu Bình - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T:

Ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 02/3/2017 anh Nguyễn Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số: 51/QĐ-XPHC ngày 03/3/2017.

Ngày 21/9/2017 anh Nguyễn Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T xử phạt số tiền 1.000.000 đồng theo Quyết định số: 155/QĐ-XPHC ngày 22/9/2017.

Chủ tịch UBND xã B ban hành Quyết định số: 172/QĐ-UBND ngày 25/9/2017 quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình đối với anh S, thời gian 06 tháng kể từ ngày Quyết định có hiệu lực.

Ngày 02/11/2017 anh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND xã B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với anh S. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh T ban hành Quyết định số: 194/QĐ-UBND ngày 06/11/2017 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với anh S, thời gian 03 tháng kể từ ngày 06/11/2017 đến ngày 06/02/2018, hình thức cai nghiện, điều trị nghiện tự nguyện tại gia đình. Chủ tịch UBND xã B đã ban hành giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số: 24/GCN-UBND ngày 06/02/2018.

Ngày 26/02/2018 anh Nguyễn Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B lập biên bản vi phạm hành chính.

Ngày 09/10/2018 anh Nguyễn Thanh S bị Công an xã B, huyện H, tỉnh T mời đến trụ sở làm việc, thử nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy đá nên lập biên bản vi phạm hành chính. Anh S thừa nhận có sử dụng ma túy đá cách đây khoảng 5-6 ngày. Cùng ngày 09/10/2018 Công an xã B có văn bản gửi Trạm Y tế xã Trường Hòa, huyện H yêu cầu xác định người nghiện chất ma túy đối với anh S. Tại phiếu trả lời kết quả của Trạm Y tế xã Trường Hòa ngày 09/10/2018 kết luận anh Nguyễn Thanh S là người nghiện ma túy đá (Methamphetamine).

Công an xã B, huyện H đã ra Thông báo số: 22/TB ngày 15/10/2018 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ban hành Quyết định số: 213/QĐ-UBND ngày 16/10/2018 giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S do Công an xã B lập đã thể hiện: anh Nguyễn Thanh S là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thang S, thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Tòa án nhân dân huyện H đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S, thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:

Công an xã B, huyện H, tỉnh T đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S, xét thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; khoản 1 Điều 5, Điều 7 và Điều 8 Thông tư số: 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nội dung hồ sơ thể hiện anh Nguyễn Thanh S là người nghiện ma túy nên biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội, đã áp dụng biệp pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình và biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn tái nghiện. Để tạo điều kiện cho anh S chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, anh Nguyễn Thanh S thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và tự nguyện khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Anh S đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên lần vi phạm này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; khoản 1 Điều 5, Điều 7 và Điều 8 Thông tư số: 05/2018/TT-BCA ngày 07/02/2018 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thanh S.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, địa chỉ: ấp Tân Lợi, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh T.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện H; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.

Cỡ chữ