vanban.org

Quyết định 100/2017/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 14/06/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/06/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn H, hủy quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án số 14/2015/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Ông Bùi Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Bùi Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Ông T Trung Nguyễn kiện ông Nguyễn Hải P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn H, hủy quyết định đình chỉ giải
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 152 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải; Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 100/2017/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 6 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng An Thanh.

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Công Mười.

Bà Huỳnh Thanh Duyên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 14/2015/QĐST-DS ngày 04

tháng 8 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ vào khoản 3 Điều 152, điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 2 Điều 193, Điều 194 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Đòi lại tài sản” giữa:

Nguyên đơn:

1/ Ông T Trung Nguyễn.

Địa chỉ: Mo 63021 (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ).

2/ Bà Nguyễn S.

Địa chỉ: Mo 63021 (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ).

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Văn H.

Địa chỉ: cư xá Đ, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn

Thị A.

Địa chỉ: phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hải P.

Địa chỉ: đường P, Khu phố Q, phường R, thành phố C, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Võ Thúy P2.

Địa chỉ: đường T, phường U, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ NLQ1 (Đã chết ngày 17/4/2012).

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Ngọc

L:

NLQ2.

Địa chỉ: Ok 74164 -1819 USA.

NLQ3.

Địa chỉ: MO 63052 USA.

NLQ4.

Địa chỉ: đường P, Khu phố Q, phường R, thành phố C, tỉnh Đồng Nai.

NLQ5.

Địa chỉ: đường P, Khu phố Q, phường R, thành phố C, tỉnh Đồng Nai.

2/ NLQ6.

Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Bến Tre.

3/ NLQ7.

Địa chỉ: đường G, phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo ngày 03 tháng 9 năm 2015, ông Bùi Văn H (người đại

diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông T Trung Nguyễn và bà Nguyễn S (Theo các giấy ủy quyền được lập ngày 06 tháng 7 năm 2012)) yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

XÉT THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 14/2015/QĐST-DS ngày

04 tháng 8 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ghi: “Ngày 10/7/2015, TAND tỉnh Đồng Nai đã gửi giấy triệu tập đương sự ngày 06/7/2015 triệu tập ông Bùi Văn H lên làm việc vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 17/7/2015”. Tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 24/2017/QĐ-SCBSBA ngày 28 tháng 4 năm 2017 thì ngày làm việc được sửa chữa thành ngày 16/7/2017. Bản sao Giấy triệu tập đương sự số 02/TA ngày 06 tháng 7 năm 2015 được lưu trong hồ sơ (Bút lục số 328) có nội dung triệu tập Luật sư Nguyễn Thị A đúng 13 giờ 30 phút ngày 16 tháng 7 năm 2015 có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để làm việc. Ngày 10 tháng 7 năm 2015, tại Biên bản giao giấy triệu tập làm việc ngày 06/7/2015 (Bút lục số 313), Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ghi: “Nội dung: Triệu tập ông Bùi Văn H và luật sư A lên làm việc vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 17/7/2015”. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ghi ngày làm việc trong giấy triệu tập và trong biên bản tống đạt không thống nhất với nhau nên không thể coi đây là lần ông H được triệu tập làm việc hợp lệ.

Ngày 10 tháng 7 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tống đạt cho

ông H Giấy triệu tập đến làm việc vào ngày 16 tháng 7 năm 2015 (6 ngày sau khi được tống đạt văn bản) là cho đương sự thời gian chuẩn bị quá ngắn. Trong khi đó, từ ngày 13 tháng 7 năm 2015 đến ngày 20 tháng 7 năm 2015, ông H phải đi công tác tại miền Trung theo Lịch công tác của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ lữ hành L (Địa chỉ: đường K, phường J, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh) do Lãnh đạo Công ty ký và đóng dấu ngày 05 tháng 7 năm 2015 (Bút lục số 323). Như vậy, ông H vắng mặt tại Tòa án ngày 16 tháng 7 năm 2015 có lý do chính đáng.

Ngày 28 tháng 7 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã gửi Giấy

triệu tập đương sự ký ngày 27 tháng 7 năm 2015, triệu tập ông H đến làm việc vào ngày 03 tháng 8 năm 2015 (6 ngày sau khi nhận được Giấy triệu tập) là cho đương sự thời gian chuẩn bị quá ngắn. Trong khi đó, ông H bị bệnh ngày 03 tháng 8 năm 2015 (Theo đơn thuốc ngày 03 tháng 8 năm 2015 của Bệnh viện đa khoa Vạn Hạnh – Bút lục số 321). Ngoài ra, thời gian này cha của ông H đang nằm bệnh viện (Theo giấy ra viện của Bệnh viện đa khoa M thuộc thành phố N, tỉnh Bến Tre: Ông Bùi Văn H2 điều trị tại Bệnh viện từ ngày 31 tháng 7 năm 2015 đến ngày 24 tháng 8 năm 2015). Như vậy, việc vắng mặt của ông H tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày 03 tháng 8 năm 2015 có lý do chính đáng.

Từ những phân tích trên cho thấy Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình

chỉ giải quyết vụ án dân sự vì lý do đã triệu tập ông Bùi Văn H (đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn) đến làm việc hai lần nhưng đương sự vắng mặt là không khách quan, không phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông H, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 14/2015/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố

Hồ Chí Minh tham gia phiên họp đề nghị Hội đồng phúc thẩm hủy Quyết định sơ thẩm vì các lý do tương tự như nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án

ngày 03 tháng 10 năm 2016, căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí phúc thẩm được thực hiện theo Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì Hội đồng phúc thẩm hủy Quyết định sơ thẩm nên căn cứ Khoản 3 Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, người kháng cáo là ông Bùi Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn H, hủy quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án số 14/2015/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

2. Ông Bùi Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Bùi

Văn H được nhận lại 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp (Biên lai thu số 004865 ngày 30/9/2015 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ