- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/QĐ-TA | Đà Nẵng, ngày 21 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ– TP. ĐÀ NẴNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Dự– Cán bộ Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 10/QĐ-TA ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Anh Lê Văn T - Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1997.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12
Nghề nghiệp: Đầu bếp
Nơi ĐKHKTT: 129 đường H, Tổ 65, phường K, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
-Tiền án: không
-Tiền sự: 02
+ Ngày 05/9/2022, bị Công an phường K, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng ra Quyết định số 187/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ.
+ Ngày 06/9/2022, bị chủ tịch UBND phường K, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng ra Quyết định số 167/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm kể từ ngày 06/9/2022.
Con ông Lê T (sinh năm 1960) và bà Hồ Thị Th (sinh năm 1964)
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Công Đông - Chức vụ: Trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Xuân Lành– Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Lê Văn T là người nghiện ma túy. T thừa nhận vào khoảng 22h00 phút ngày 05/02/2023 T đã sử dụng ma túy tại phòng ngủ ở nhà tại số 129 đường H, Tổ 65, phường K, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá do T mua qua mạng xã hội; T sử dụng một mình không có ai biết. Đến ngày 09/02/2023, khi Công an phường K mời lên làm việc đã xét nghiệm và xác định T dương tính với ma túy; T bị chủ tịch UBND phường K, quận Cẩm Lệ ra quyết định số 18/QĐ-QLNN ngày 09/02/2023 “ Về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
Tại phiên họp, đại diện Phòng lao động Thương binh và Xã hội quận Cẩm Lệ, có ý kiến: Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T do Công an phường K, quận Cẩm Lệ lập thể hiện T là người đã nghiện ma túy, đã từng bị xử lý hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên việc để T ở ngoài tự cai và cắt hẳn cơn nghiện là không có khả thi, do đó đề nghị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tập trung cai nghiện đối với T trong thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng tại Cơ sở Xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành mở phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Thẩm phán chủ trì phiên họp áp dụng mức xử lý hành chính tập trung cai nghiện đối với Lê Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị Lê Văn T: Thừa nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Tòa án xem xét giảm ngắn thời gian cai nghiện để sớm về với gia đình, làm người có ích cho xã hội.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động – Thương binh và Xã hội quận Cẩm Lệ, ý kiến của người bị đề nghị Lê Văn T; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến. Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ có đủ căn cứ xác định:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các điều 6, 95, 96, 103 và 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét hành vi vi phạm và nhân thân của Lê Văn T thì thấy: T là người có đầy đủ năng lực hành vi hành chính. Lẽ ra T là người nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy với bản thân và cộng đồng, nhưng vì để thỏa mãn ham muốn cá nhân T đã sử dụng ma túy trái phép.
Trước đây Lê Văn T đã từng cai nghiện bắt buộc tại gia đình – cộng đồng với thời gian 06 tháng theo Quyết định số 269/QĐ-UBND ngày 17/7/2020 của chủ tịch UBND phường K, quận Cẩm Lệ và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 260/QĐ-UBND ngày 17/7/2020 của chủ tịch UBND phường K, quận Cẩm Lệ với thời gian là 06 tháng kể từ ngày 17/7/2020 đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Và ngày 31/8/2019, T đã bị Công an phường H, quận Cẩm Lệ xử phạt số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 05/9/2022 bị Công an phường K, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng ra Quyết định số 187/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ. Ngày 06/9/2022, bị chủ tịch UBND phường K, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng ra Quyết định số 167/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 01 năm kể từ ngày 06/9/2022.
Sau đó T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; như vậy T biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhưng T vẫn cố ý sử dụng nên đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét hành vi của T thì T thừa nhận vào khoảng 22h00 phút ngày 05/02/2023, T đã sử dụng ma túy tại phòng ngủ ở nhà tại số 129 đường H, Tổ 65, phường K, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, loại ma túy T sử dụng là ma túy đá do T mua qua mạng xã hội; T sử dụng một mình không có ai biết. Đến ngày 09/02/2023 khi Công an phường K, quận Cẩm Lệ mời lên làm việc, Cơ quan chuyên môn đã tiến hành xét nghiệm đối với T và kết quả xét nghiệm đã xác định T dương tính với ma túy, loại ma túy T sử dụng là ma túy tổng hợp (hàng đá). Điều đó thể hiện Lê Văn T là người nghiện ma túy.
Việc sử dụng ma túy trái phép trong cộng đồng là hành vi bị xã hội lên án mạnh mẽ tạo tâm lý hoang mang cho các bậc phụ huynh và là cơ sở để phát triển nhanh trong cộng đồng số người nghiện ma túy, là nỗi lo lớn trong đời sống cộng đồng.
Từ những nhận định ở trên, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị của Phòng lao động – Thương binh và xã hội quận Cẩm Lệ . Áp dụng các điều 6, 95, 96, 103, 104, 105 và 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 21; Điều 23 và Điều 24 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, để áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T, cần cách ly ra khỏi cộng đồng và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian mới có tác dụng giáo dục và tạo điều kiện để T dứt hẳn cơn nghiện.
Tại phiên họp hôm nay, Lê Văn T có thái độ ăn năn hối lỗi và thành khẩn khai nhận hành vi của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính cho T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày Lê Văn T bị tạm giữ để đưa vào Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng, ngày 09/02/2023.
Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động - Thương binh và xã hội quận Cẩm Lệ; Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp TPĐN; - Công an quận Cẩm Lệ; - VKSND quận Cẩm Lệ; - Phòng LĐTBXH quận Cẩm Lệ; - UBND phường K; - Công an phường K; - Người bị đề nghị; - Cơ sở xã hội Bầu Bàng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thanh Nga |