- Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc Thân Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Thân Văn T, sinh ngày 22/10/1975 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Số 95, đường Thân K, xã S, thành phố B, tỉnh B).
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 30 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/QĐ-TA | Tân Yên, ngày 22 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Ánh Dương
2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Văn Nam
Ngày 22/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 09/2019/QĐ-TA ngày 08/11/2019 đối với:
Anh Thân Văn T, Giới tính: Nam
Sinh ngày 22/10/1975
Số CMND 121618866 ngày cấp 17/7/2010 nơi cấp: CA tỉnh Bắc Giang
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 12/12
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: P, thị trấn C, huyện T, tỉnh B.
Đã chấp hành xong Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 27/3/2019 của Chủ tịch UBND thị trấn C về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn kể từ ngày 27/3/2019.
Tiền án: không; Tiền sự : không.
Con ông Thân Trọng T và bà Ong Thị S.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn M – Phó phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh B: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại lời trình bày ngày 18/10/2019 và các lời khai tiếp theo Thân Văn T khai: Trung bị UBND thị trấn C ra Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 27/3/2019 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn C về việc sử dụng ma túy với thời gian 03 tháng, kể từ ngày 27/3/2019. Sau khi chấp hành xong thời hạn 03 tháng áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn C và được cấp giấy chứng nhận số 25/GCN-UBND ngày 27/6/2019 đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại thị trấn C thì đến ngày 14/10/2019 T lại bị Công an thị trấn C lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Ngày 18/10/2019 T bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình làm việc, T khai nhận sử dụng ma túy tổng hợp (Ma túy đá) từ năm 2000 đến năm 2019 và ngày 18/10/2019 đã bị Công an thị trấn C lập biên bản về sử dụng ma túy tổng hợp. T đã được gia đình cho đi cai nghiện ma túy nhiều lần nhưng không cai nghiện ma túy được.
Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Thân Văn T với thời gian là 24 tháng, do T không tự cai nghiện ma túy.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị chấp nhận quan điểm về việc đưa Thân Văn T vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng do T nghiện ma túy và không tự cai nghiện được.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện viện kiểm sát, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
* Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Thân Văn T do nghiện ma túy, không tự cai nghiện. Nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
* Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Thân Văn T lập ngày 18/10/2019 do T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 08/11/2019 Tòa án nhân dân huyện T thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
* Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thấy: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện đối với Thân Văn T đã đầy đủ các tài liệu, phù hợp với Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
* Xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T thấy: Thân Văn T là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, Trung đã bị UBND thị trấn C áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn C theo quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 27/3/2019 thời hạn là 03 tháng. Hết thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, Thân Văn T vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 18/10/2019 Trạm y tế thị trấn C xác định T có nghiện ma túy (loại ma túy tổng hợp Methamphetamine). Chứng tỏ Thân Văn T là người khó có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc sử dụng ma túy của T là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Thân Văn T đã vi phạm: Khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; khoản 1, khoản 16 Điều 2; khoản 1 Điều 96; điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để Thân Văn T cai nghiện được ma túy và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời chị Ong Thị S là mẹ đối tượng cũng có ý kiến đồng ý để Thân Văn T đi cai nghiện bắt buộc. Cần chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B và đại diện Viện kiểm sát, đưa Thân Văn T đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B với thời hạn là 24 tháng là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Thân Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Thân Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn và đã được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 - Luật xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính là: “…trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính…mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính…”. Chưa hết thời hạn 02 năm đối tượng Thân Văn T lại vi phạm do vậy đối tượng phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Thân Văn T, sinh ngày 22/10/1975 (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Số 95, đường Thân K, xã S, thành phố B, tỉnh B).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Đối tượng Thân Văn T, Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện T, tỉnh B, phòng Lao động
- Thương Binh và Xã hội huyện T, tỉnh B.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Phòng LĐTBXH huyện T; - UBND thị trấn C; - Người bị đề nghị: - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Ánh Dương |