- Tranh chấp gì? "Mai Ngoc Tr"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Mai Ngọc Tr.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/QĐ-TA | H, ngày 11 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐÂT, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lê Cẩm Tú.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thành Minh.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh K tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 07 tháng 9 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Mai Ngọc Tr
Giới tính: Nữ.
Sinh năm 1998.
CMND số: 352494862 Ngày cấp: 20/02/2020 Nơi cấp: Công an tỉnh An Giang.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 4/12.
Nguyên quán: C - A.
Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh A.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Làm thuê
Tiền án: không; tiền sự: Không.
Con ông: Mai Văn K và bà: Trần Thị Kim Ph.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị:
1.1. Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Th - Trưởng phòng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh K; vắng mặt.
1.2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Việt Hoài - Phó Trưởng phòng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh K; đại diện theo Giấy ủy quyền số 03/UQ-LĐTBXH ngày 03/3/2020; có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh K: Ông Nguyễn Thế Nam
- Kiểm sát viên; có mặt.
NHẬN THẤY:
Tại văn bản số 195/LĐTBXH – PCTNXH ngày 28/8/2020 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh K về việc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Mai Ngọc Tr, cũng như các tài liệu chứng khác có trong hồ sơ đã xác định: Vào lúc 19 giờ ngày 27 tháng 7 năm 2020, chị Tr có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại ấp H, xã Thổ Sơn, huyện H, tỉnh K. Ngày 30 tháng 7 năm 2020, chị Tr viết bản tường trình thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Cũng trong ngày 30 tháng 7 năm 2020, chị Tr bị Công an xã Thổ Sơn, huyện H, tỉnh K lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 04 tháng 8 năm 2020 của Cơ sở Cai nghiện đa chức năng tỉnh K xác định chị Tr dương tính với chất ma túy, loại ma túy đã sử dụng là Methamphetamin. Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Công an xã Thổ Sơn xác định chị Tr không có nơi cư trú ổn định.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Tr, thời hạn 12 đến 16 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh K phát biểu về quá trình tiến hành các thủ tục giải quyết vụ việc như sau: Thẩm phán đã tiến hành thụ lý, giải quyết và mở phiên họp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H đã tiến hành lập đầy đủ hồ sơ và đủ căn cứ để đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với chị Tr. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án giải quyết theo đề nghị của cơ quan đề nghị.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, lời trình bày của người bị đề nghị và ý kiến trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của kiểm sát viên đã có đủ căn cứ xác định: [1] Về trình tự thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Mai Ngọc Tr đã được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 95, Điều 96, điểm b khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Nghị định 221/2013/NĐ-CP); Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP (Nghị định 136/2016/NĐ-CP); Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ Công an quy định việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Thông tư số 05/2018/TT-BCA). [2] Về nội dung:
Người bị đề nghị là chị Mai Ngọc Tr đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 27/7/2020, chị Tr thì bị Công an xã Thổ Sơn, huyện H, tỉnh K lập biên bản vi phạm hành chính. Theo phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 04/8/2020 của Cơ sở Cai nghiện đa chức năng tỉnh K xác định chị Tr dương tính với chất ma túy Methamphetamin. Chị Tr là người không có nơi cư trú ổn định, bản thân chị Tr cũng có bản tường trình xác định đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên căn cứ quy định tại Điều 95, Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 2 Điều 9 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP, khoản 2 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, khoản 2 Điều 5 của 05/2018/TT-BCA thì chị Tr thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, cơ quan đề nghị đề nghị áp dụng biện xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Tr là có cơ sở.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Chị Tr không có tình tiết tăng nặng; có tính tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải nên được xem xét khi quyết định thời gian chấp hành.
Về nhân thân: Chị Tr chưa có tiền án, tiền sự nên được xem là có nhân thân tốt.
Tại phiên họp, chị Tr đồng ý ở lại Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh K chữa bệnh, phục hồi sức khỏe để sớm tái hòa nhập cộng đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Mai Ngọc Tr.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 30/7/2020).
3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh K có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh K; Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh K; Công an huyện H, tỉnh K; cơ quan, tổ chức có liên quan và chị Tr có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh K; - VKSND huyện H; - Công an xã Thổ Sơn, huyện H; - Phòng LĐ-TB và XH huyện H; - CSCNMT-ĐCN tỉnh K; - Người bị đề nghị; - Lưu HS | THẨM PHÁN Lê Cẩm Tú |