vanban.org

Quyết định 10/2026/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L:

Tuyên bố anh Lương Văn B, sinh ngày 06-01-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "L - B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L:
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2026/QĐST-DSNinh Bình, ngày 26 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Anh - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2025/TLST-VDS ngày 17 tháng 12 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2026/QĐST-VDS ngày 11 tháng 5 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Chị Trần Thị Thùy L, sinh ngày 02-7-2003; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường S, tỉnh Lào Cai (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Người bị yêu cầu: Anh Lương Văn B, sinh ngày 06-01-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Lương Minh K, sinh ngày 02-01-2020; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường S, tỉnh Lào Cai.

2. Cháu Lương Hồng H, sinh ngày 06-02-2022; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường S, tỉnh Lào Cai.

3. Cháu Lương Minh H1, sinh ngày 03-8-2023; số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường S, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Lương Minh K, cháu Lương Hồng H, cháu Lương Minh H1: Chị Trần Thị Thùy L, sinh ngày 02-7-2003; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường S, tỉnh Lào Cai (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Tại Bản tự khai đề ngày 23-12-2025, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Trần Thị Thùy L trình bày: Chị và anh Lương Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi có con, chị và anh B mới đăng ký kết hôn. Vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định cũ vào ngày 01-4-2022. Chị và anh Lương Văn B có 03 con chung là Lương Minh K, sinh ngày 02-01-2020; Lương Hồng H, sinh ngày 06-02-2022; Lương Minh H1, sinh ngày 03-8-2023. Hiện cả 03 cháu đều đang ở với chị.

Vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023, chị và anh B có cãi nhau, anh B đã bỏ nhà đi. Kể từ thời gian đó đến nay, chị không còn liên lạc được với anh B. Anh Lương Văn B cũng không liên lạc gì với chị. Chị không biết bất cứ thông tin gì về nhân thân của anh Lương Văn B. Từ khi quen anh B, chị chưa từng đến nhà anh B. Anh B đã đăng ký thường trú tại số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình từ năm 2022. Chị đã thử nhiều lần liên lạc với anh B qua điện thoại nhưng không liên lạc được. Chị hỏi thông tin anh B qua bạn bè nhưng không ai liên lạc được cũng như biết anh Lương Văn B hiện nay ở đâu. Về bố mẹ anh B, chị chỉ được nghe anh B kể bố anh B đã mất, mẹ anh B tên là M nhưng chị cũng không biết mẹ anh B hiện nay ở đâu.

Chị Trần Thị Thùy L yêu cầu Toà án tuyên bố chồng chị là Lương Văn B mất tích.

2. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Lương Văn B. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 22-12-2025; Công an phường T, tỉnh Ninh Bình xác nhận anh Lương Văn B có đăng ký thường trú tại địa chỉ số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, anh B đã vắng mặt tại địa phương từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay, không thông báo lại với cơ quan Công an, không đăng ký tạm trú tại địa chỉ nào khác.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 22-12-2025; đại diện tổ dân phố số H phường T, tỉnh Ninh Bình xác nhận anh Lương Văn B đã vắng mặt tại địa phương từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay, không biết tin tức, địa chỉ.

3. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L, Tòa án đã đăng thông báo tìm kiếm anh Lương Văn B trên B1 trong 3 số báo liên tiếp, cụ thể: Số 3 ra ngày 09-01-2026, số 4 ra ngày 14-01-2026 và số 5 ra ngày 16-01-2026; nhắn tin tìm kiếm anh Lương Văn B trên Đ trong 3 lần liên tiếp vào các ngày 01-01-2026, 02-01-2026, 03-01-2026; đăng thông báo tìm kiếm anh Lương Văn B trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao nhưng anh Lương Văn Ba K1 liên hệ và không đến Tòa án làm việc và cũng không ai biết được thông tin về anh Lương Văn B.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 24-4-2026, đại diện tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Từ khi Tòa án thụ lý việc dân sự đến nay, anh Lương Văn B không trở về địa phương, địa phương không có tin tức gì của anh Lương Văn B.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 24-4-2026, Công an phường T cung cấp: Từ khi Tòa án thụ lý việc dân sự đến nay, anh Lương Văn B không trở về địa chỉ số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình sinh sống, không đăng ký tạm vắng, không khai báo tạm trú với Công an phường T, tỉnh Ninh Bình.

4. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ , quyền hạn; tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 48, Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự; tiến hành triệu tập, thông báo, tống đạt hợp lệ các tài liệu, văn bản tố tụng cho các đương sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký phiên tòa: Tại phiên họp Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết việc dân sự:

Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L, tuyên bố anh Lương Văn B là người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, chị Trần Thị Thùy L là vợ anh Lương Văn B nên được xác định là người có quyền, lợi ích liên quan và có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lương Văn B mất tích.

Xét thấy người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Lương Văn B có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Số nhà G đường T, phường T, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình thụ lý, giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Lương Văn B là đúng quy định tại Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về giải quyết yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L:

Chị Trần Thị Thùy L và anh Lương Văn B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (cũ) vào ngày 01-4-2022. Vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023, anh Lương Văn B đã bỏ nhà đi. Chị Trần Thị Thùy L đã nhiều lần tìm kiếm tin tức, địa chỉ của anh Lương Văn B nhưng không có kết quả.

Chị Trần Thị Thùy L không xác định được chính xác được ngày, tháng mà chỉ xác định được anh Lương Văn B bỏ đi vào khoảng cuối tháng 9 năm 2023. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định thời điểm có tin tức cuối cùng của anh Lương Văn B là ngày 01-10-2023. Như vậy, anh Lương Văn B biệt tích đã trên 02 năm. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Lương Văn B và áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có tin tức xác thực về việc anh Lương Văn B còn sống hay đã chết. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L về việc tuyên bố anh Lương Văn B mất tích.

Về tài sản: Chị Trần Thị Thùy L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết việc quản lý tài sản của anh Lương Văn B.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Thùy L là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải nộp lệ phí theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thùy L:

Tuyên bố anh Lương Văn B, sinh ngày 06-01-1998; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà G T, phường T, tỉnh Ninh Bình mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị Thùy L đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003691 ngày 17-12-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người bị yêu cầu, người đại diện theo pháp luật của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ