vanban.org

Quyết định 10/2025/QĐPT-HC — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 17/01/2025 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Đình T và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 09/2024/QĐST-HC ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Đình T. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện hủy quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Đình T và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 09/2024/QĐST-HC ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2025/QĐPT-HCHà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị Thơm;

Các Thẩm phán:

Ông Điều Văn Hằng;

Ông Nguyễn Phan Nam.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 09/2024/QĐST-HC ngày 24 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm g, h khoản 1 Điều 143 và Điều 144 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện hủy quyết định hành chính”, giữa:

1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn H, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị L, sinh năm 1996; Địa chỉ liên hệ: Số A H, quận C, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hồng T1 - Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H.

2. Người bị kiện:

2.1. Ủy ban nhân dân tỉnh H.

2.2. Ủy ban nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND thị xã K: Ông Nguyễn Văn C - Phó Chủ tịch UBND thị xã K.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND phường A: Ông Vũ Ngọc S - Công chức địa chính, xây dựng UBND phường A.

3.2. Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn H, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

3.3. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984; anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1985; chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1988; anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Thôn H, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Tại đơn kháng cáo ngày 04/10/2024, người khởi kiện là ông Nguyễn Đình T kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 09/2024/QĐST-HC ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương với lý do:

- Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) tỉnh Hải Dương đã phê duyệt quy hoạch các thửa đất nông nghiệp trở thành đất thực hiện Dự án Khu dân cư P phường A, trong đó tại Bản đồ quy hoạch kèm theo thể hiện thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông cũng bị quy hoạch để thực hiện Dự án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương cho rằng quyết định này không làm thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của ông, từ đó đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông là không phù hợp.

- Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định sau khi UBND thị xã K ban hành Quyết định số 1636/QĐ-UBND ngày 06/12/2019 (viết tắt là Quyết định số 1636), UBND phường A đã tiến hành bàn giao cho ông nhưng do ông không nhận nên đã tiến hành niêm yết công khai là không chính xác. Thực tế ông không được bất kỳ cơ quan nào bàn giao Quyết định số 1636, ông đã nhiều lần đề nghị được nhận Quyết định này nhưng đến tháng 6/2023, thông qua người đại diện, ông mới được nhận và tiếp cận Quyết định số 1636. Trước đó ông không được giao và biết Quyết định số 1636.

XÉT THẤY:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2024, bà ông Nguyễn Đình T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tuyên hủy Quyết định số 217/QĐ-UBND ngày 18/01/2018 của UBND tỉnh H (viết tắt là Quyết định số 217) về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng Khu dân cư phía Đông xã A, huyện K (nay là phường A, thị xã K); tuyên hủy Quyết định số 1636 của UBND thị xã K, tỉnh Hải Dương về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Đình T.

Quyết định số 217 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng Khu dân cư P phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương là quyết định hành chính mang tính tổng thể, không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện Quyết định số 217 của UBND tỉnh H là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Quyết định số 1636 của UBND thị xã K về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Đình T được ban hành ngày 06/12/2019. Cùng ngày, UBND phường A, thị xã K đã tiến hành giao Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho ông Nguyễn Đình T nhưng hộ gia đình ông T không nhận, UBND phường A đã lập Biên bản về việc không nhận Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất và tiến hành niêm yết công khai Quyết định thu hồi đất số 1636 tại Trụ sở UBND phường A và Nhà văn hóa khu dân cư H1 vào ngày 07/12/2019. Không chỉ không nhận Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, nhiều văn bản khác trong quá trình thu hồi đất để thực hiện Dự án, hộ gia đình ông Nguyễn Đình T đều không nhận, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư UBND thị xã K, UBND phường A đều phải tiến hành lập biên bản và thực hiện các biện pháp cần thiết để có thể triển khai Dự án. Tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện, khi các đoàn công tác đến vận động, thuyết phục, hộ gia đình ông T đều công bố nội dung Quyết định thu hồi đất. Như vậy, có đủ cơ sở xác định người khởi kiện đã biết được Quyết định thu hồi đất từ tháng 12/2019 nhưng không có khiếu nại, khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền, hộ ông T chủ động không nhận Quyết định thu hồi đất, đến tháng 05/2024 mới làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đề nghị hủy Quyết định số 1636 ngày 06/12/2019 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, mặc dù đã trừ đi thời gian dịch bệnh Covid-19 vào các năm 2021, 2022. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính, đình chỉ giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên lẽ ra ông Nguyễn Đình T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm nhưng xét ông Nguyễn Đình T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng phúc thẩm miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Đình T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Đình T và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 09/2024/QĐST-HC ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

2. Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Đình T.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ