- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐVDS TBMNMT Khai - Líu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Chẻo Vần K: Tuyên bố chị Chẻo Mù L1; sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2024/QĐST-DS | Y, ngày 19 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đoàn Ngọc Vĩnh
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Quỳnh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Mai Minh Thuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 10/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Chẻo Vần K; sinh năm: 1985; dân tộc: Dao; Nghề nghiệp: Làm ruộng; số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục C2 –BCA cấp ngày 02/10/2021; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 16/9/2024).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Bà Lục Thùy L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- Người bị yêu cầu: Chị Chẻo Mù L1; sinh năm: 1994; dân tộc: Dao; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 26/3/2024, bản tự khai ngày 19/4/2024, đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 16/9/2024 người yêu cầu ông Chẻo Vần K trình bày: Tôi là bác ruột và là người giám hộ của cháu Chẻo Duyền Q, sinh năm 2012, có bố là Chẻo Cù C, sinh năm 1989, mẹ là Chẻo Mù L1, sinh năm 1994. Chị Chẻo Mù L1 và anh Chẻo Cù C chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang, quá trình chung sống anh chị có một con chung là cháu Chẻo Duyền Q, sinh ngày 20/4/2012. Năm 2013 chị Chẻo Mù L1 tự ý bỏ đi biệt tích, không ai biết thông tin gì về chị L1 ở đâu làm gì. Năm 2021 anh Chẻo Cù C chết để lại con trai là con chung của anh C và chị L1 là cháu Chẻo Duyền Q ở cùng tôi là Chẻo V Khai. Từ khi chị L1 bỏ đi đến nay không thấy trở về địa phương, không có tung tích gì về chị Chẻo Mù L1 hiện nay ở đâu, còn sống hay đã chết. Đề nghị Tòa án tuyên bố chị Chẻo Mù L1 mất tích để cháu tôi là Chẻo Duyền Q được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lục Thùy L có ý kiến căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y chấp nhận yêu cầu của ông Chẻo Vần K tuyên bố chị Chẻo Mù L1, sinh năm 1994, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ việc theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã yêu cầu đương sự và đã thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự đúng quy định của pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân huyện Y là đảm bảo tuân thủ thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 146, Điều 361, khoản 2, khoản 3 Điều 367, các Điều 369, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Y chấp nhận yêu cầu của ông Chẻo Vần K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu tuyên bố chị Chẻo Mù L1, sinh năm 1994, nơi cư trú cuối cùng thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích. Về án phí ông Chẻo Vần K phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về tố tụng: Chị Chẻo Mù L1, sinh năm 1994; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang nên đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Chẻo Vần K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người yêu cầu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu chấp hành tốt các quyết định của Tòa án và người yêu cầu có đơn xin giải quyết vắng mặt, người bị yêu cầu được Tòa án tống đạt văn bản theo quy định vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định tiến hành giải quyết vắng mặt người yêu cầu ông Chẻo Vần K và người bị yêu cầu chị Chẻo Mù L1.
Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Chị Chẻo Mù L1 và anh Chẻo Cù C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn từ năm 2012 và có một con chung. Năm 2013 chị Chẻo Mù L1 tự ý bỏ nhà đi biệt tích, đến năm 2021 anh Chẻo Cù C chết để lại con chung của anh C và chị L1 là cháu Chẻo Duyền Q ở với ông Chẻo Vần K là bác ruột của cháu Q. Sau khi anh C chết ông K đã cùng gia đình hai bên báo cáo chính quyền địa phương tìm kiếm chị L1 nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về chị L1 hiện nay ở đâu. Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang xác nhận chị L1 vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 7 năm 2013 đến nay không có tin tức, không rõ chị L1 đang làm gì, ở đâu.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của ông Chẻo Vần K, Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định và Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 06/2024/QĐ-TA ngày 19/4/2024 đối với chị Chẻo Mù L1 và niêm yết tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hà Giang; trụ sở UBND xã P và trụ sở Nhà văn hóa thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang; đồng thời đã được thông báo trên báo Công lý 03 số liên tiếp là số 40, 41 và 42 ra các ngày 17, 22, 24/5/2024; được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 15, 16, 17/5/2024; ngoài ra Quyết định và Thông báo đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc chị Chẻo Mù L1 còn sống hay đã chết. Ông Chẻo Vần K là người giám hộ của cháu Chẻo Duyền Q là con chung của chị Chẻo Mù L1 và anh Chẻo Cù C (đã chết) do vậy, yêu cầu của ông Chẻo Vần K về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Chẻo Mù L1, sinh năm 1994 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và các Điều 387, 388 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về con của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Ông Chẻo Vần K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng giải quyết việc dân sự không xem xét giải quyết.
Về quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Ông Chẻo Vần K không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng giải quyết việc dân sự không xem xét giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Chẻo Vần K phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 146, các Điều 361, 369, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Chẻo Vần K: Tuyên bố chị Chẻo Mù L1; sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Chẻo Vần K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do bà Lục Thùy L nộp thay theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003181 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Hà Giang.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Y có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người yêu cầu, người bị yêu cầu vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Y - Chi cục THADS huyện Y; - Người yêu cầu; Người bị yêu cầu; - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu; - UBND xã P, H Y; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đoàn Ngọc Vĩnh |