- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Phu Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2022/QĐST-VDS Ngày 14-10-2022 “V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 09/2022/TLST-VDS ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc: "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2022/QĐST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2022, Quyết định hoãn phiên họp số 02/2022/QĐST-VDS ngày 07/10/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Phạm Thị D, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phu Văn C, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã V, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 16/5/2022, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu chị Phạm Thị D trình bày:
Chị kết hôn với anh Phu Văn C, sinh năm 1976 có địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 25/12/1995. Quá trình chung sống, vợ chồng chị sinh được 02 người con là Phu Thị T, sinh năm 1996 và Phu Văn N, sinh năm 1998. Đến năm 2008, anh Phu Văn C bỏ nhà đi (nói là đi làm ăn) nhưng không khai báo về việc vắng mặt tại nơi cư trú, gia đình không biết anh C đi đâu và làm gì. Đến năm 2016 khi bố anh C chết thì anh C có về nhà 1-2 hôm sau đó lại bỏ đi, từ đó đến nay anh C không về nhà nữa, không ai liên lạc được với anh.
Trong nhiều năm qua, chị và người thân trong gia đình đã hỏi thăm, tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có thông tin của anh C. Nay do chị và các con có nhu cầu vay vốn ngân hàng để phát triển kinh tế gia đình, nên chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phu Văn C bị mất tích.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 27, Điều 35, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 361, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D về yêu cầu tuyên bố anh Phu Văn C mất tích.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về lệ phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phu Văn C đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị D yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phu Văn C mất tích. Đây là quan hệ pháp luật về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu của chị Phạm Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Về nội dung: Chị Phạm Thị D có chồng là anh Phu Văn C (đăng ký kết hôn số 11/1995 ngày 25/12/1995 tại UBND xã V, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang). Anh Phu Văn C đã bỏ nhà đi từ năm 2008, năm 2016 anh C có về một lần xong lại bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì, gia đình chị D đã đi tìm kiếm, hỏi thăm nhiều nơi nhưng hiện không có thông tin anh C ở đâu và làm gì.
Ngày 23/5/2022, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 144/2022/QĐTBTK-VDS đối với anh Phu Văn C. Thông báo đã được đăng trên đài tiếng nói Việt Nam VOV5 vào các ngày 28, 29, 30/5/2022 và báo Công lý ba số liên tiếp ngày 03/6/2022, 07/6/2022, 10/6/2022; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo thực hiện theo đúng quy định tại Điều 384; Điều 385 và khoản 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, tính từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên là ngày 28/5/2022 đến ngày 28/9/2022 hết thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Phu Văn C.
Tại biên bản xác minh ngày 19/5/2022 tại Công an xã V xác định: Anh Phu Văn C vắng mặt tại địa phương từ năm 2008 đến nay, hiện không có thông tin của anh C.
Tại biên bản làm việc ngày 19/9/2022 với ông Phu Văn S có sự chứng kiến của Trưởng thôn Đ, xã V. Ông S cho biết: Ông là anh trai của anh Phu Văn C, năm 2008 anh C vào Miền nam làm ăn (không biết cụ thể là làm gì và ở đâu), đến năm 2016 anh C có về nhà một lần khi bố anh C chết, xong anh C lại bỏ đi. Từ đó đến nay gia đình không có tin tức gì của anh C, không thể liên lạc được, không biết anh C hiện ở đâu. Mọi công việc gia đình và ngày lễ, ngày tết cũng không thấy anh C về nhà.
Như vậy đủ căn cứ xác định anh Phu Văn C đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Phu Văn C còn sống hay đã chết.
Chị Phạm Thị D và gia đình đã sử dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không có thông tin gì của anh Phu Văn C. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc, Tòa án đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến nay vẫn không nhận được tin tức của anh C. Do vậy Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Phu Văn C, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã V, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Phu Văn C: Chị Phạm Thị D không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Phu Văn C nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố anh Phu Văn C mất tích được xác định và thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật dân sự.
Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị D phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị D phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 370, 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68, Điều 69, Điều 70 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị D về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Phu Văn C.
2. Tuyên bố: Anh Phu Văn C, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã V, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mất tích.
Kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác, quan hệ về tài sản của chị Phạm Thị D được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Toà án quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
3. Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị D phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí nhắn tin, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, xác nhận chị Phạm Thị D đã nộp đủ.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D nộp tạm ứng tại biên lai số 0013771 ngày 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, xác nhận chị Phạm Thị D đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSD tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Nam; - Chi cục THADS huyện Lục Nam; - UBND xã V, huyện Lục Nam; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thái Sơn |