vanban.org

Quyết định 10/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Th.

Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.033.000 đồng bà Bùi Thị Th phải chịu. Bà Th đã dự nộp số tiền 4.000.000 đồng theo phiếu thu số 119/2020/TB-TĐ ngày 03/12/2020, đã chi số tiền 3.033.000 đồng theo phiếu chi số C50/2021 ngày 08/6/2021. Bà Th đã được nhận … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2021/QĐST-DSPhước Long,ngày 30 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến Ly

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên họp: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số: 14/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người bị mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 09/2021/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Th, sinh năm 1949; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.(Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hứa Văn T, sinh năm 1950; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, lời khai có trong hồ sơ người yêu cầu bà Bùi Thị Th trình bày:

Bà và ông Hứa Văn T sống chung với nhau từ năm 1972 mà không có đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung do ông T có bệnh tâm thần nên thường xuyên bỏ nhà đi. Ông T đã đi khỏi gia đình và không trở về từ khoảng năm 2008 đến nay, bà không gặp và cũng không liên lạc được với ông T. Khi ông T đi không nói cho bà biết ông T đi đâu và làm gì. Ông T đã biệt tích hơn 02 năm liền, bà không biết hiện nay ông T đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Từ đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hứa Văn T mất tích.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Thư ký đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên việc gửi quyết định mở phiên họp và hồ sơ cho Viện kiểm sát thực hiện chưa đúng quy định tại khoản 3 Điều 366 của Bộ luật tố tụng dân sự; Đối với người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về yêu cầu giải quyết việc dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Th tuyên bố ông Hứa Văn T mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Th yêu cầu tuyên bố ông Hứa Văn T mất tích, nơi cư trú cuối cùng của ông T là trên địa bàn huyện Phước Long nên căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Th xác định do ông T đã biệt tích hơn 02 năm liền mà bà Th không liên lạc được và cũng không có tin tức gì của ông T nên bà Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất tích. Căn cứ để bà Th yêu cầu đó là đơn xin xác nhận của bà Th ngày 22/9/2020 của Uỷ ban nhân dân xã Phong Thạnh Tây B.

Căn cứ theo lời khai của bà Th và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phước Long đã gửi Công văn yêu cầu Công an xã Phong Thạnh Tây B cung cấp thông tin của ông Hứa Văn T. Tại Công văn số 04/CAX ngày 14/12/2020 của Công an xã B xác nhận: ông Hứa Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, hiện nay ông T không còn sinh sống tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Khoảng năm 2007, ông T rời khỏi địa phương, đi không thông báo với Công an xã về nơi cư trú mới nên hiện tại chưa có tin tức xác thực ông T còn sống hay đã chết. Tòa án nhân dân huyện Phước Long đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đã tiến hành thủ tục đăng trên Báo Công lý trong ba số liên tiếp (số 008 ngày 26/01/2021, số 009 ngày 29/01/2021 và số 010 ngày 02/02/2021) và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp (phát sóng ngày 26, 27, 28/01/2021). Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (ngày 26/01/2021) và đến thời điểm mở phiên họp ông T không trở về, không liên hệ với Tòa án để giải quyết đối với yêu cầu của bà Th.

Xét thấy, ông T đã biệt tích 02 năm liền trở lên, bà Th và Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của bà Th yêu cầu tuyên bố ông Hứa Văn T mất tích.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm và chi phí thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Th phải chịu theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 27, 35, 39, 370, 371, 372, 385, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Th. Tuyên bố ông Hứa Văn T, sinh năm 1950; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Bạc Liêu mất tích.

2. Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.033.000 đồng bà Bùi Thị Th phải chịu. Bà Th đã dự nộp số tiền 4.000.000 đồng theo phiếu thu số 119/2020/TB-TĐ ngày 03/12/2020, đã chi số tiền 3.033.000 đồng theo phiếu chi số C50/2021 ngày 08/6/2021. Bà Th đã được nhận lại số tiền 967.000 đồng.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị Th phải chịu 300.000 đồng. Bà Th đã dự nộp số tiền tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009761 ngày 03/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu lệ phí.

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đối với đương sự không có mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết./.

Cỡ chữ