vanban.org

Quyết định 10/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Đổ Thị X.

Tuyên bố chị Lê Tấn V mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đổ Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà X đã nộp tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đổ Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2021/QĐST-DSLấp Vò, ngày 10 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Thành N.

Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Thị Diễm Q - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị P - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 93/2021/TLST-VDS ngày 04/3/2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2021/QĐDS-ST ngày 08/7/2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đổ Thị X, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số 429, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đ;

Người đại hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 126C, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đ; Là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2020)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Tấn V, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 207D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đổ Thị X là chị Lê Thị Mỹ T trình bày: Bà X với chị Lê Tấn V là mẹ con. Chị V trước khi kết hôn thì sống chung với bà X, sau khi chị V có chồng thì chị V lập gia đình và sinh sống với gia đình chồng tại số 207D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ vào năm 2014. Tuy nhiên, sau đó chị V đã ly hôn với chồng và đến năm 2015, không biết lý do gì mà chị V lại bỏ đi đến nay, không rõ làm gì và ở đâu. Bà X đã tìm kiếm chị V nhiều nơi, đã đăng tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam, Báo Công lý, Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (Thông báo - nhắn tin trên sóng AM tần số 657 Mhz tại Thành phố Hồ Chí Minh và 675 Mhz tại Hà Nội của Đài Tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 50 phút đến 18 giờ các ngày 15, 16, 17/4/2021; Nhắn tin trên Báo Công lý 03 số liên tiếp 033, 034 - 035, 036 các ngày 23, 30/4/2021 và ngày 04/5/2021; Nhắn tin trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Cổng thông tin đện tử Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp cùng ngày 29/3/2021).

Nay bà Đổ Thị X có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Tấn V, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 207D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ mất tích để bà X làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy, người yêu cầu bà Đổ Thị X có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Tấn V mất tích. Do đó, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Tấn V có nơi cư trú cuối cùng tại ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ. Cho nên, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung việc dân sự:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 25/02/2021 và tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của bà Đổ Thị X là chị Lê Thị Mỹ T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Tấn V, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 207D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ mất tích. Với lý do và mục đích là làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Kèm theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà X, vào các ngày 15/01/2021 Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Đ có văn bản xác nhận chị V vắng mặt ở địa phương từ năm 2015 đến nay không có mặt tại địa phương; cùng các hóa đơn chứng từ chứng minh cho việc thông báo tìm kiếm chị V theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến ngày 19/10/2021, Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Đ có văn bản xác nhận hiện tại chị V không có mặt tại địa phương từ tháng 02/2018 đến nay, không rõ nơi đến. Tuy nhiên, đến nay chị V vẫn biệt vô âm tính và cũng không có tin tức xác thực về việc chị V còn sống hay đã chết, mặc dù bà X đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của bà Đổ Thị X là chị Lê Thị Mỹ T vẫn giữ yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Lê Tấn V mất tích và Kiểm sát viên đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của bà X.

Xét đơn yêu cầu cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của bà Đổ Thị X và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đổ Thị X là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm và chi phí cho việc đăng phát quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, theo quy định tại Điều 149 và khoản 2 Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu bà Đổ Thị X có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Tấn V có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự theo quy định tại các điều 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đổ Thị X.

2. Tuyên bố chị Lê Tấn V mất tích.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đổ Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà X đã nộp tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BI/2019/0013933 ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; Và số tiền 4.300.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm nghìn đồng) chi phí cho việc đăng phát quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, bà X đã thực hiện xong.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Đổ Thị X có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Chị Lê Tấn V có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ