vanban.org

Quyết định 10/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/05/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương mất tích.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị G không phải nộp lệ phí vì thuộc trường hợp được miễn nộp tiền phí và tạm ứng lệ phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2020/QĐST - DS
Ngày: 12/5/2020
Về việc yêu cầu tuyên bố
một người mất tích

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: yêu cầu tuyên bố một người mất tích)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Ngà.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Trần Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, mở phiên họp công khai xét việc dân sự thụ lý số: 590/2019/TLST- DS ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp số 09/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2020.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị G, sinh năm 1955; địa chỉ: 157/10A khu phố Đông T, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Chí T, sinh năm 1997 và bà Lê Mai T1, sinh năm 1997; cùng địa chỉ: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn và lời khai trong quá trình tố tụng bà Trần Thị G trình bày:

Bà Trần Thị Gái và ông Lê Văn N, sinh năm 1936 (chết ngày 24/01/2019) có một người con chung tên là Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1970, ngoài ra không có người con riêng hay con nuôi nào khác mà chỉ có người cháu nuôi là Lê Chí T, sinh năm 1997. Từ nhỏ bà Lê Thị Ánh T2 sống chung với vợ chồng bà Gái tại địa chỉ: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 6 năm 1997 bà Tuyết đã bỏ nhà đi đâu không rõ, gia đình đã nhiều lần cố gắng liên lạc và tìm kiếm nhưng không biết tin tức hiện nay bà T2 đang sinh sống ở đâu, còn sống hay đã chết. Trong thời gian sinh sống cùng với vợ chồng bà Gái tại địa phương thì bà Lê Thị Ánh T2 chưa có chồng, con. Sau nhiều lần tìm kiếm không thấy bà Tuyết, gia đình bà Gái đã báo chính quyền địa phương về sự việc bà T2 bỏ nhà đi đâu không rõ. Do nhiều năm bà T2 mất tích không có tin tức gì với gia đình nên Công an đã xóa tên Lê Thị Ánh T2 trong sổ hộ khẩu của bà G. Vì vậy, đến năm 2019 khi bà G đổi hộ khẩu mới không còn tên bà T2 trong sổ hộ khẩu của bà G làm chủ hộ.

Do bà T2 đã bỏ đi khỏi địa phương từ rất nhiều năm nay không rõ, không có tin tức gì, gây nhiều khó khăn cho bà Gái khi cần thực hiện giao dịch dân sự. Vì vậy, nay bà Gái yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2 mất tích, để thuận tiện trong việc thực hiện các giao dịch dân sự của bà G.

- Lời khai của người làm chứng ông Lê Chí T, bà Lê Mai T1 trình bày:

Bà Lê Mai T1 là vợ của ông T. Ông T được vợ chồng bà Trần Thị G và ông Lê Văn N (chết ngày 24/01/2019) nhận nuôi từ nhỏ nhưng không có làm thủ tục giấy tờ nhận nuôi và xem như cháu nên bà Gái có đăng ký cho ông Lê Chí T trong sổ hộ khẩu của bà G và ghi là cháu ngoại, chứ thực tế ông T với vợ chồng bà G, bà T2 không có mối quan hệ huyết thống. Trong quá trình sinh sống cùng với bà G thì ông T và bà T1 chưa từng gặp bà T2 lần nào mà chỉ nghe nói bà Gái có người con gái duy nhất là bà Lê Thị Ánh T2; tuy nhiên từ năm 1997 bà T2 đã bỏ nhà đi khỏi địa phương hiện không rõ ở đâu, thời điểm bà T2 sinh sống cùng bà Gái tại địa phương thì bà T2 chưa có chồng con. Nay bà G yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2 mất tích ông T, bà T1 không có ý kiến, đồng thời xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ việc nên không có yêu cầu gì.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Viện kiểm sát xét thấy sau khi thụ lý đơn và quá trình giải quyết yêu cầu của bà G, Tòa án đã tiến hành đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Lê Thị Ánh T2. Vì vậy bà Trần Thị G yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2 mất tích là có căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Bà Trần Thị G và ông Lê Văn N (chết ngày 24/01/2019) có một người con chung duy nhất tên là Lê Thị Ánh T2 và sống cùng ông bà từ nhỏ, đến khoảng tháng 6 năm 1997 bà T2 đã bỏ nhà đi đâu không rõ. Mặc dù gia đình bà G đã nhiều lần cố gắng liên lạc và tìm kiếm nhưng không biết tin tức của bà T2 hiện đang sinh sống ở đâu, còn sống hay đã chết. Sự việc này bà G cũng đã báo chính quyền địa phương và cơ quan Công an đã xóa tên bà T2 trong sổ hộ khẩu của bà G. Trong thời gian sinh sống cùng với vợ chồng bà Gái tại địa phương thì bà Lê Thị Ánh T2 chưa có chồng con.

Tại Phiếu yêu cầu xác minh ngày 02/01/2020 do Tòa án tiến hành, Công an phường Tân Đông H xác nhận: Bà Lê Thị Ánh T2 có hộ khẩu tại địa chỉ: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng từ năm 2003 bà T2 đã bỏ đi khỏi địa phương và đi đâu không rõ.

Ngày 06/01/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 02/2019/QĐ-TA đối với bà Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1978, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích là 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó thông báo tìm kiếm đã được đăng tin trên báo Trung ương ba số liên tiếp vào các ngày 15, 16 và 17/02/2020 (báo Thanh niên), đồng thời phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam (kênh truyền hình VTV9) trong ba ngày liên tiếp là các ngày 30, 31/3/2020 và 01/4/2020, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Lê Thị Ánh T2. Vì vậy, bà Trần Thị G yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2 mất tích là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự nên Tòa án chấp nhận.

Từ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; các Điều 149, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bà Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 157/10A khu phố Đ, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị G không phải nộp lệ phí vì thuộc trường hợp được miễn nộp tiền phí và tạm ứng lệ phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ