vanban.org

Quyết định 10/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/04/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Hà Văn M,

Hủy bỏ Quyết định số 20/2019/QĐDS-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân về việc tuyên bố anh Hà Văn M, sinh năm 1975, địa chỉ: thôn 3, xã X (xã XS cũ), huyện T, tỉnh Thanh Hóa là người mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hà Văn M phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "hủy qđ mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Hà Văn M,
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2020/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 29 tháng 4 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/TLST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc: yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2020/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Hà Văn M, sinh năm 1975, địa chỉ: thôn 3, xã X (xã XS cũ), huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn 6, xã TN, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu là anh Hà Văn M trình bày: anh Hà Văn M và chị Nguyễn Thị Ánh H có quan hệ là vợ cH, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ cH có xảy ra xích mích, nên vợ cH sống ly thân từ năm 2009 và không liên lạc với nhau. Đến nay anh về quê mới biết là chị Nguyễn Thị Ánh H đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh là người mất tích và Tòa án đã giải quyết tuyên bố anh mất tích; Nên anh trở về địa phương trình báo và làm đơn đề nghị Tòa án

hủy

bỏ

quyết

định

tuyên bố anh mất tích; ngoài ra anh không có ý kiến gì khác.

Qúa trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Ánh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Toà án áp dụng: Điều 369, 370, 390 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 70 Bộ luật Dân sự, để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hà Văn M, hủy bỏ quyết định tuyên bố anh Hà Văn M mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Ánh H vắng mặt tại phiên họp, nhưng xét không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự, nên căn cứ khoản 3 Ðiều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị H.

Về nội dung yêu cầu: Quan hệ hôn nhân giữa anh Hà Văn M và chị Nguyễn Thị Ánh H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ cH có xảy ra mâu thuẫn, nên vợ cH đã sống ly thân từ năm 2009 và không có liên lạc với nhau. Do không biết thông tin về anh M, nên tháng 01/2019 chị H có làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh M là người mất tích và tại Quyết định số 20/2019/QĐDS-ST ngày 04/6/2019 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã tuyên bố anh Hà Văn M là người mất tích theo quy định. Tuy nhiên, đến ngày 27/9/2019 anh Hà Văn M đã trở về địa phương trình báo và được công an xã Xuân Quang xác nhận; nay anh M có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích. Xét yêu cầu của anh M là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 70 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của anh M, hủy bỏ quyết định tuyên bố anh Hà Văn M mất tích.

Về lệ phí: Anh Hà Văn M phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 149, khoản 3 Ðiều 367, Điều 370, 371, 372, 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Hà Văn M,

Hủy bỏ Quyết định số 20/2019/QĐDS-ST ngày 04/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân về việc tuyên bố anh Hà Văn M, sinh năm 1975, địa chỉ: thôn 3, xã X (xã XS cũ), huyện T, tỉnh Thanh Hóa là người mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hà Văn M phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, anh M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0007269 ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Anh Hà Văn M đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ