- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đình S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đình S. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: Xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 196 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:10/2020/QĐ-TA. | Ea Kar, ngày 23 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP D NG IỆN PHÁP X L HÀNH CH NH
Đ A VÀO C
CAI NGHIỆN ẮT UỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
* Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Võ Thị Mai.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Loan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.
Ngày 23 tháng 9 năm 2019, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 11/2020/QĐ-TA, ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Trần Đình , sinh ngày: 20/4/1992. Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị.
Nơi cư trú: Không có nơi ở nhất định.
Địa chỉ hiện nay: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Con ông Trần Đình B và con bà Nguyễn Thị A.
Với sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Đình Thanh. Chức vụ: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Nguyên Thạch. Chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 9 năm 2020 - Có mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar: Bà Trần Thị Minh Nguyệt. Chức vụ: Kiểm sát viên. (Có mặt).
NHẬN TH Y:
Đối tượng Trần Đình S bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy đối với hành vi như sau:
Ngày 23 tháng 7 năm 2020 Trần Đình S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã H, huyện K phát hiện lập biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy đá, hình thức sử dụng: Đốt hút khói.
Ngày 23/7/2020 Công an xã H, huyện K ban hành công văn đề nghị xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với đối tượng Trần Đình S.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy và phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 23/7/2020 của Trạm y tế xã H, kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Trần Đình S dương tính (+) Methaphetamine, tên gọi khác: Ma túy đá.
Biên bản ghi lời khai ngày 23/7/2020 cũng như tại phiên họp hôm nay Trần Đình S khai nhận: Trần Đình S bắt đầu sử dụng ma túy được 1 tuần, S đã sử dụng ma túy đá từ đó đến nay được 4 lần. Đến khoảng 23 giờ ngày 22/7/2020 S tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá, hình thức sử dụng đốt hút khói tại phòng trọ Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 23/7/2020 Trần Đình S đón taxi xuống huyện K chơi, khi đến xã H kiểm tra hành chính và mời về trụ sở làm việc. Cơ quan Công an xã H, huyện K tiến hành trưng cầu xét nghiệm; Trạm y tế xã H đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Trần Đình S và thử nước tiểu bằng thanh thử Test nhanh loại A Bon và kết quả dương tính Methaphetamine (ma túy Đá).
Tại công văn số 117/LĐTB&XH-PCTNXH ngày 31/8/2020 cũng như tại phiên họp hôm nay đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar ông Vương Nguyên Thạch đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 196 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đưa đối tượng Trần Đình S vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đề nghị áp dụng là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng, kể từ ngày 23 tháng 7 năm 2020.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị. Đồng ý với với quan điểm của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar là đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa Trần Đình S vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đề nghị áp dụng là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát và người tham gia phiên họp.
X T TH Y
Tại biên bản sử dụng trái phép chất ma túy ngày 23/7/2020, biên bản lấy lời khai ngày 23/7/2020, người bị đề nghị Trần Đình S đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai của người bị đề nghị phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong vụ việc, cũng như kết quả làm việc tại phiên họp ngày hôm nay.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Đình S đã có đủ cơ sở xem xét đưa đối tượng Trần Đình S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016. Do đó đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ea Kar là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
1.“ Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Xét tính chất mức độ hành vi vi phạm: Hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy của Trần Đình S gây mất trật tự an ninh công cộng, làm phức tạp thêm tình hình quản lý các chất ma túy và góp phần làm gia tăng thêm các tệ nạn xã hội.
Xét ý thức và nhân thân của người bị đề nghị: Bản thân Trần Đình Scó năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ý thức được tác hại của việc sử dụng chất ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng do bị lệ thuộc vào chất ma túy nên đã có hành vi sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Trần Đình S đã sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi ở nhất định là vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Việc cách ly Trần Đình S ra khỏi cộng đồng một thời gian để đưa Trần Đình S đi cai nghiện bắt buộc là điều cần thiết, nhằm mục đích giúp Trần Đình S chữa bệnh, cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau và bảo đảo an ninh trật tự chung cho xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ việc người bị đề nghị Trần Đình S đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cần áp dụng để giảm nhẹ cho người bị đề nghị thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đã được chuẩn bị đầy đủ, chặt chẽ, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Bảo đảm sự tham gia và quyền lợi của người bị đề nghị, không vi phạm về thời hiệu, thời hạn giải quyết.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 196 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/1/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đình S. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: Xã T, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk là 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng, kể từ ngày 23 tháng 7 năm 2020.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Trần Đình S có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Ea Kar có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Ea Kar; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk; Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Ea Kar; - Phòng LĐTB & XH huyện Ea Kar; - Người bị đề nghi; - Cơ sở ĐTCNMT tỉnh Đắk Lắk; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Võ Thị Mai |