- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Thị L - Mai Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2019/QĐST-DS | Cẩm Mỹ, ngày 21 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Hà Thế Nam
Thư ký phiên họp: bà Trần Thị Hoài Minh – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 57/2019/TLST-DS ngày 06/5/2019 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 107/2019/QĐST-DS ngày 07/10/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị L, sinh năm: 1971, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: số 91A/1, ấp 1, xã X, huyện CM, tỉnh Đồng Nai;
(có mặt)
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: ông Mai Văn H, sinh năm: 1976, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm 5, thôn P, xã GN, huyện QN, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng: ấp 1, xã X, huyện CM, tỉnh Đồng Nai;
(vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Phạm Thị L và ông Mai Văn H là vợ chồng, đã được Ủy ban nhân dân xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2014. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông H không chịu đi làm mà hay tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, khi bà L nói lời khuyên bảo thì ông H không nghe mà còn đập phá đồ đạc, quậy phá gia đình. Đến tháng 10/2014, trong một lần vợ chồng cãi vã, ông H đã thu gom đồ dùng cá nhân và bỏ đi biệt tích đến nay. Bà L có hỏi thông tin của ông H từ bạn bè, cũng đã về quê ông H tại xóm 5, thôn P, xã GN, huyện QN, tỉnh Quảng Bình và cũng đã đăng báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của ông H. Do ông H đã biệt tích hơn 2 năm nên bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích để có có sở chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa hai người. Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc quản lý tài sản của ông H. Sau khi Toà án ra quyết định thông báo tìm kiếm, bà L đã thực hiện việc đăng báo, nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định nhưng cho đến nay vẫn không có kết quả về tin tức của ông H.
* Ý kiến của Kiểm sát viên: thủ tục tố tụng được đảm bảo; đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà L: tuyên bố ông H mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ nhận định:
Về quan hệ pháp luật: bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu tuyên bố ông Mai Văn H mất tích nên quan hệ pháp luật thụ lý là “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là BLTTDS).
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung mà Công an xã GN, huyện QN, tỉnh Quảng Bình xác nhận thì ông Mai Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 5, thôn P, xã GN, huyện QN, tỉnh Quảng Bình, nhưng từ năm 1999 ông H đi làm ăn xa và không còn sinh sống tại địa phương từ năm 1999 đến nay; theo nội dung xác nhận của trưởng ấp 1, xã X và công an xã X thể hiện: ông H không đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã X nhưng sau khi kết hôn với bà L thì hai người sinh sống tại ấp 1, xã X đến tháng 10/2014 ông H bỏ địa phương đi đến nay, không rõ đi đâu. Như vậy có căn cứ để xác định: ông Mai Văn H có nơi cư trú cuối cùng là tại xã X, huyện CM, tỉnh Đồng Nai; theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS thì yêu cầu của bà L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết: bà L và ông H có đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã X cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 12 ngày 21/03/2014. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 387 của BLTTDS thì bà L có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích theo quy định.
Xét yêu cầu của bà L nhận thấy: Theo tài liệu chứng cứ do bà L cung cấp và Tòa án xác minh có trong hồ sơ thể hiện rõ: trong quá trình chung sống do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên ông H bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 10/2014 đến nay; bà L cũng đã đăng tin tìm kiếm ông H trên báo Đồng Nai nhưng không có kết quả nên đã nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích. Sau khi thụ lý vụ việc, ngày 24/5/2019 Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 58/2019/QĐ-TA và thực hiện việc đăng tin trên cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh Đồng Nai; bà L cũng đã nhắn tin tìm kiếm ông H trên báo Thanh Niên vào các ngày 6, 7, 8 tháng 6 năm 2019 và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam trong 3 ngày 13, 14, 15 tháng 6 năm 2019. Xét thấy việc thông báo tìm kiếm đã được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 385 của BLTTDS nhưng cho đến nay vẫn không có tin tức gì của ông Mai Văn H; do đó, yêu cầu của bà L là có cơ sở chấp nhận.
Về quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: không ai yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về lệ phí: bà L phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 27, 35, 39, 149, 361, 370, 371, 372, 389 của BLTTDS, Điều 68 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị L:
Tuyên bố ông Mai Văn H, sinh năm: 1976, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm 5, thôn P, xã GN, huyện QN, tỉnh Quảng Bình, nơi cư trú cuối cùng: ấp 1, xã X, huyện CM, tỉnh Đồng Nai mất tích.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: không xem xét.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp tại biên lai thu tiền số ngày 04/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; bà L đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
3. Về kháng cáo, kháng nghị: người yêu cầu được quyền kháng cáo quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Người yêu cầu; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký tên và đóng dấu) Hà Thế Nam |