vanban.org

Quyết định 10/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 01/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Q 08 (tám năm 06 (sáu tháng tù. Th i hạn tù tính t ngày 07 tháng 8 năm 2018. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS-ST
Ngày 01/3/2019

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.

Các Hội thẩm N dân:

1. Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.

2. Ông Nguyễn Văn Vệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền là Thư ký Tòa án của Tòa án N dân thành phố Cao Lãnh.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án N dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2018/TLST-HS, ngày 28 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành Q, sinh năm 1988, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: T A, kh m B, phư ng C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn và bà Nguyễn Thị A vợ V Thị Kim T; c 01 ngư i con sinh năm 2014; tiền án; tiền sự: Không; N thân: Ngày 23/01/2003, bị UBND thị Cao L nh quyết định đưa vào Trư ng giáo dư ng 18 tháng, về hành vi "G y rối trật tự c ng cộng"; ngày 18/6/2008, bị C ng an phư ng 4, thành phố Cao L nh ử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng, về hành vi "N m đá vào ngư i khác"; ngày 26/8/2009, bị Tòa án N d n tỉnh Đồng Tháp ử phạt 03 năm t về tội "Cướp tài sản", chấp hành ong ngày 27/11/2011; tạm gi : ngày 07/8/2018, tạm giam ngày 16/8/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp D, xã E, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

2. Dương Thị Mỹ D, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cư trú: Ấp D, xã E, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 gi ngày 06/8/2018, Nguyễn Thành Q một mình đ n e khách đến Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh mua 21 t p ma túy với giá 2.500.000 đồng của một ngư i tên Tý M (kh ng biết họ, tên thật và địa chỉ đem về nhà tại số 10 đư ng H, T A, kh m B, phư ng C, thành phố Cao L nh để bán lại kiếm l i và sử dụng.

Khoảng 15 gi 40 phút ngày 07/8/2018, Dương Thị Mỹ D điện thoại rủ Nguyễn Hoàng N h n tiền mua ma túy sử dụng. Sau đ , N ch D đến quán cà phê "Phượng" trên đư ng E thuộc kh m D, phư ng H, thành phố Cao L nh. Tại đ y, N đưa cho D 100.000 đồng, D điện thoại cho Q để h i mua ma túy, nhưng Q kh ng nghe máy, khoảng 10 phút sau Q điện thoại lại cho D h i "C gì kh ng em", D trả l i "Điện thoại cho anh để trả 300.000 đồng và lấy cho em thêm một cái 300.000 đồng" (tức là D trả nợ cho Q 300.000 đồng tiền mua ma túy ngày 05/8/2018 và h i mua 01 t p giá 300.000 đồng , Q đồng ý và kêu D đến nhà Q giao dịch. N chạy e ch D đến nhà Q, N dựng e còn D đi vào trước gặp Q và Đ Hồng N là ngư i chăm s c gà đá cho Q đang ngồi trong phòng khách. Gặp nhau, D đưa cho Q 600.000 đồng, Q giao cho D 01 t p ma túy, D n i "H m nay em muốn giao lưu với anh", Q đồng ý và kêu mọi ngư i ra phía sau nhà bếp c giư ng b ng bêt ng lát gạch men, ung quanh được che b ng tấm vải màu đ . D, Q và Hồng N c ng lên giư ng ngồi, N vào sau, D lấy t p ma túy v a mua của Q đ một ít vào n thủy tinh của bộ dụng cụ tự chế để cả 04 ngư i sử dụng, ph n còn lại D hàn kín cất vào túi áo. D n i "H m trước anh giao cho em hàng kh ng ngon" (tức là n i Q bán ma túy kh ng chất lượng , lúc D đi vệ sinh, Q theo tặng thêm n a t p ma túy của Q sử dụng còn lại, D nhận và cất vào túi áo thì bắt quả tang.

* Kiểm tra và thu gi của Q:

- Túi qu n trước bên trái: 01 điện thoại Iphone màu vàng-đồng sim số 0913.354.155; 01 t tiền 500 đồng dán băng keo màu hư ng bên trong c 01 bịch nylon hàn kín, bên trong c 19 bịch nylon hàn kín chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A1".

- Trong túi qu n trước bên phải 01 điện thoại Nokia màu vàng đồng sim số 0935.717.410 sử dụng vào việc liên lạc bán ma túy và 1.350.000 đồng, trong đ 600.000 đồng bán ma túy mà c , còn lại 750.000 đồng là tiền cá N của Q.

- Khu vực nhà bếp c 01 máy p điện màu anh hiệu OPE ATING INST UCTIONS và 01 bộ dụng cụ tự chế b ng mủ.

- Trong tủ ngăn k o phòng ngủ: 01 điện thoại hiệu Masstel màu anh đen kh ng sim; 01 điện thoại hiệu Mobiistar màu anh-đ -đen không pin, kh ng sim; 01 điện thoại hiệu Vo tel màu trắng không pin, kh ng sim; 01 bịch nylon hàn kín chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng; 01 bịch nylon hàn kín chứa nhiều hạt thảo mộc, 02 bịch nylon được niêm phong trong phong bì l n lượt ký hiệu "A2, A3".

- Trong tủ qu n áo phòng ngủ: 01 bộ dụng cụ tự chế b ng thủy tinh.

Kiểm tra và thu gi của Dương Thị Mỹ D: Trong túi áo 02 bịch nylon hàn kín chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi l a úy ng h p .

Tại kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 10/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 19 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A1" gửi đến giám định là chất ma túy, c t ng khối lượng 3,687gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A2" gửi đến giám định kh ng phát hiện thành ph n các chất ma túy và tiền chất d ng vào việc sản uất ma túy thư ng gặp, c khối lượng 36,889 gam; Hạt thảo mộc kh chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A3 gửi đến giám định là c n sa kh , c khối lượng 14,794 gam; Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon, niêm phong trong phong bì gửi đến giám định đều là chất ma túy, c t ng khối lượng 0,042 gam, loại Methamphetamine.

Kết quả ác định tình trạng nghiện của Q dương tính với ma túy t ng hợp.

Qua điều tra chứng minh, Nguyễn Thành Q còn nhiều l n bán trái ph p chất túy cho ngư i khác, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 00 gi 30 phút ngày 05/8/2018, D điện thoại cho Q h i mua 400.000 đồng ma túy, Q đồng ý h n D đến nhà Q để giao dịch mua bán. Sau đ , D một mình chạy e máy đến nhà Q gặp nhau. Do kh ng đủ tiền nên D đưa cho Q 100.000 đồng và in nợ lại 300.000 đồng, Q đồng ý giao cho D 01 t p ma túy đem về nhà sử dụng một mình. Số tiền nợ 300.000 đồng, D đ trả cho Q vào ngày bắt quả tang.

Lần 2: Khoảng 11 gi , kh ng nhớ ngày trong tháng 7/2018, D điện thoại cho Q h i mua 400.000 đồng ma túy, Q h n D đến nhà Q để giao dịch mua bán. Sau đ , D một mình chạy xe đến d ng trước c ng nhà, thì Q đi ra giao cho D 01 tép ma túy, D trả cho Q 400.000 đồng, rồi chạy e đem ma túy về nhà sử dụng.

Lần 3: Khoảng 11 gi , kh ng nhớ ngày trong tháng 7/2018, D điện thoại cho Nguyễn Hoàng N rủ hùn tiền mua ma túy sử dụng, N đồng ý. Sau đ , N mượn điện thoại của D gọi cho Q h i mua 400.000 đồng ma túy, Q đồng ý và h n N đến nhà Q để giao dịch mua bán. N chạy e ch D đến điểm h n. Khi đến nhà Q, D đưa cho N 400.000 đồng để đi vào nhà gặp Q, còn D ngồi trên xe ch . Gặp nhau, Q giao cho N 01 tép ma túy, N trả cho Q 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N và D đến thuê nhà trọ "Chính" thuộc phư ng 1, thành phố Cao Lãnh sử dụng.

Lần 4: Vào khoảng 22 gi 30 phút, kh ng nhớ ngày trong tháng 7/2018, Hồ Mộng T và bạn tên V có nhu c u sử dụng ma túy, nên T điện thoại cho Q h i mua "n a hộp" ma túy giá 1.500.000 đồng, Q đồng ý và h n T đến nhà Q giao dịch mua bán. Sau đ , T chạy e ch Vy đến nhà Q thấy c 02 ngư i thanh niên trong s n nhà (T kh ng biết tên thật, địa chỉ cụ thể, chỉ biết 01 ngư i tên T Phư ng C, thành phố Cao L nh , T đưa 1.500.000 đồng qua khe cửa c ng, T nhận tiền, rồi ngư i thanh niên giao cho T 01 bịch ma túy, T và Vy đi thuê khách sạn sử dụng.

Tại cáo trạng số 02/CT-VKSTPCL, ngày 28/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đ i, b ng sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân d n thành phố Cao L nh gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng t ử áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đ i, b ng sung năm 2017, ử phạt bị cáo t 08 đến 10 năm tù. Về vật chứng: Đối với 03 điện thoại di động do Trung Quốc sản suất đ bị hư kh ng sử dụng được, Q kh ng yêu c u nhận lại, đề nghị tịch thu tiêu hủy, đối với số tiền thu gi và tiền gia đình bị cáo tự nguyện nộp là 3.000.500 đồng đề nghị tịch thu sung ng n sách nhà nước, nh ng tài sản khác đề nghị tuyên như cáo trạng đ nêu. Bị cáo kh ng c nghề nghiệp, kh ng c tài sản riêng nên đề nghị kh ng áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình để phạt tiền bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo th a nhận hành vi phạm tội, xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo bị truy tố:

Bị cáo Q là ngư i nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy, bị cáo Q mua ma túy về chiết ra bán lại kiếm l i. Ngày 07/8/2018 bị cáo Q bán trái ph p ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,042 gam với giá 300.000 đồng cho Dương Thị Mỹ D và Nguyễn Hoàng N thì bị bắt quả tang c ng tang vật. Thu gi của Q 3,687gam ma túy Methamphetamine chưa kịp tiêu thụ, c ng dụng cụ sử dụng ma túy.

Ngoài ra, trong khoảng th i gian t tháng 7 đến tháng 8 năm 2018, bị cáo Q đ 04 l n bán trái ph p ma túy Methamphetamine cho Dương Thị Mỹ D, Nguyễn Hoàng N, Hồ Mộng T thu được 2.700.000 đồng. T ng cộng, Q 05 l n bán trái ph p ma túy cho 03 ngư i, thu được 3.000.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 10/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 19 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A1" gửi đến giám định là chất ma túy, c t ng khối lượng 3,687gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu "A2" gửi đến giám định kh ng phát hiện thành ph n các chất ma túy và tiền chất d ng vào việc sản uất ma túy thư ng gặp, c khối lượng 36,889gam; Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon, niêm phong trong phong bì gửi đến giám định đều là chất ma túy, c t ng khối lượng 0,042gam, loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đ thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.

Bị cáo là ngư i đ thành niên, đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo 05 l n bán trái phép chất ma túy cho 03 ngư i, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.

T nh ng căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đ phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ ma túy là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội khác, ảnh hư ng rất lớn đến đ i sống của m i con ngư i, m i gia đình và toàn hội. Chỉ vì mục đích th a mãn nhu c u cá nhân mà bị cáo đ bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội. Do đ , c n phải có mức án tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện, nh m cải tạo, giáo dục bị cáo tr thành ngư i công dân tốt và răn đe, phòng ng a chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội c thái độ thành khẩn khai báo; bị cáo đ tác động gia đình nộp lại tiền bán ma túy, đ y là tình tiết giảm nh quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo kh ng c nghề nghiệp, kh ng c tài sản riêng nên kh ng áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình để phạt tiền bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu sung ng n sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu vàng đồng sim số 0935.717.410 sử dụng vào việc liên lạc bán ma túy và số tiền 3.000.500 đồng sử dụng vào việc mua bán ma túy.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Masstel màu anh đen kh ng sim, 01 điện thoại hiệu Mobiistar màu anh đ đen kh ng pin, kh ng sim, 01 điện thoại hiệu Voxtel T3 màu trắng kh ng pin, kh ng sim, kh ng còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu c u được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với tài sản gồm: Tinh thể rắn còn lại trong phong bì ký hiệu A1 khối lượng 3,270 gam, tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A2 khối lượng 34,863 gam, thảo mộc kh còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A3 khối lượng 11,561 gam, tinh thể rắn trong phong bì niêm phong kh ng c ký hiệu đ sử dụng hết cho c ng tác giám định, tất cả được niêm phong ghi 594/A1, 594/A2, 594/A3, 594 ghi ngày 08/8/2018, đ ng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Đồng Tháp; 01 máy p điện màu anh hiệu OPE ATING INST UCTIONS; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 chai thủy tinh, 02 n thủy tinh, 02 ống hút nhựa, là nh ng vật cấm, sử dụng vào việc phạm tội, và vật kh ng còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng đồng sim số 0913.354.155 là tài sản cá nhân của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Q 08 (tám năm 06 (sáu tháng tù. Th i hạn tù tính t ngày 07 tháng 8 năm 2018.

- Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước gồm: 01 điện thoại Nokia màu vàng đồng sim số 0935.717.410 và số tiền 3.000.500 đồng (Trong đ 1.350.500 đồng thu gi tại hiện trư ng và 1.650.000 đồng gia đình bị cáo tự nguyện nộp theo biên lai 05969, ngày 08/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh).

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 điện thoại hiệu Masstel màu anh đen kh ng sim; 01 điện thoại hiệu Mobiistar màu anh-đ -đen kh ng pin, kh ng sim; 01 điện thoại hiệu Vo tel T3 màu trắng kh ng pin, kh ng sim; tinh thể rắn còn lại trong phong bì ký hiệu A1 khối lượng 3,270 gam, tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A2 khối lượng 34,863 gam; thảo mộc kh còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A3 khối lượng 11,561 gam; tinh thể rắn trong phong bì niêm phong kh ng c ký hiệu đ sử dụng hết cho c ng tác giám định, tất cả được niêm phong ghi 594/A1, 594/A2, 594/A3, 594 ghi ngày 08/8/2018, đ ng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Đồng Tháp; 01 máy p điện màu anh hiệu OPE ATING INST UCTIONS; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 chai thủy tinh, 02 n thủy tinh, 02 ống hút nhựa.

Trả lại cho bị cáo Q 01 điện thoại Iphone màu vàng đồng sim số 0913.354.155.

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao L nh đang quản lý).

- Về án phí: Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ