- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh S yêu cầu tuyên bố chị H là người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn S về việc tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2018/QĐVDS - ST Ngày: 13-8-2018 “V/v tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ toạ phiên họp: Bà Tống Thị Kim Phượng - Thẩm phán
- Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Nhung – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên họp: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2018/TLST-VDS ngày 20 tháng 3 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 27/2018/QĐPH-ST ngày 06 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà 01/47/181 Phù A, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Khương Thị H - sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 148 đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Phạm Văn S yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Khương Thị H, sinh năm 1982, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số nhà 1148 đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định là người mất tích.
(Anh Phạm Văn S có mặt tại phiên họp)
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố N nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự. Những người làm chứng vắng mặt nhưng không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết việc dân sự nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo đúng qui định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kèm theo đơn yêu cầu, anh Phạm Văn S đã nộp các tài liệu chứng cứ để chứng minh quan hệ giữa anh và chị Khương Thị H là vợ chồng cũng như các chứng cứ chứng minh chị Khương Thị H đã biệt tích hơn 02 năm liền mà nay không có tin tức, địa chỉ xác thực của chị H.
Tại bản tự khai ngày 23-3-2018 và tại phiên họp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự là anh Phạm Văn S trình bày: Anh và chị Khương Thị H kết hôn năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố N. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm. Khoảng tháng 5-2009 chị H tự ý bỏ nhà ra đi. Anh và gia đình đã đi tìm chị H khắp nơi qua bạn bè người thân và quê của chị H nhưng không ai biết chị H ở đâu. Từ khi bỏ đi đến nay chị H không có liên lạc gì với anh và gia đình anh, hiện nay anh không biết chị H đang làm gì ở đâu. Nay anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích. Vợ chồng anh có một con chung là Phạm Thúy H, sinh ngày 23-11-2007, hiện nay cháu Hồng đang sống cùng với anh. Về tài sản chung và vay nợ chung: vợ chồng anh không có, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 05-4-2018 của bà Nguyễn Thị P (là mẹ đẻ chị H), sinh năm 1964; nơi cư trú: Đội 12, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định trình bày: Bà xác định chị H đã bỏ nhà đi từ tháng 5-2009, thỉnh thoảng vẫn liên lạc với gia đình nhưng từ đầu năm 2015 đến nay gia đình mất liên lạc của chị H, hiện nay chị H đang ở đâu, làm gì bà không biết. Nay anh S đề nghị Tòa án tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích bà cũng đồng ý và không có ý kiến gì.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đăng trên báo Công lý các ngày 28-3-2018, ngày 30-3-2018 và ngày 04-4-2018 và nhắn tin tìm chị Khương Thị H trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 04-4-2018, 05-4-2018, 06-4-2018 và thông tin trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao nhưng không có thông tin gì về chị H. Tại tổ dân phố số 14, phường V (nơi cư trú cuối cùng của chị H trước khi bỏ đi) cũng xác nhận chị H đã bỏ đi khỏi địa phương từ cuối năm 2009 đến nay không thấy về địa phương nữa và cũng không biết địa chỉ, tin tức xác thực chị H đang ở đâu, làm gì.
Do anh S và gia đình chị H chỉ xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của chị H nên căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự xác định thời điểm chị H mất tích là ngày 01-01-2016, nơi cư trú cuối cùng của chị H là số nhà 148 đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Anh Phạm Văn S trình bày vợ chồng không có tài sản gì chung, vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn S phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị như sau: Về trình tự, thủ tục: Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn S yêu cầu tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích, xác định ngày mất tích của chị Khương Thị H là ngày 01-01-2016 theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 369 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn S về việc tuyên bố chị Khương Thị H là người mất tích
2. Tuyên bố chị Khương Thị H, sinh năm 1982, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng số nhà 148 đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định là người mất tích.
Xác định thời điểm chị Khương Thị H mất tích là ngày 01-01-2016.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Phạm Văn S đã nộp tại biên lai số 0001229 ngày 20-3-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.
4. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn S có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Chị Khương Thị H có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
| Nơi nhận: - Người YCGQVDS; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - VKSND TP. N; - Chi cục thi hành án TP. N; - UBND phường V; - Cổng thông tin điện tử; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Tống Thị Kim Phượng |