- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Xuân H – sinh năm 1982 mất tích."
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2017/Qh13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:10/2018/QĐDS-ST Ngày : 22/6/2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Minh
- Thư ký phiên họp : Ông Đào Minh Tuấn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Hường- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2018/TLST-VDS ngày 03 tháng 01 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 09/2018/QĐPH-ST ngày 07 tháng 6 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Duy C, sinh năm 1974 - Địa chỉ: 30 T, phường T, thành phố NT. Có mặt
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1982 - Địa chỉ: 30 T, phường T, thành phố NT. Vắng mặt
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Ông Phạm Duy C trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Xuân H tự nguyện kết hôn hôn với nhau năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố NT. Sau khi kết hôn ông và bà H đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại địa chỉ: 30 T, phường T, thành phố NT. Trong quá trình C sống, do giữa ông bà xảy ra mâu thuẫn nên bà Nguyễn Thị Xuân H đã bỏ nhà ra đi từ cuối năm 2013 cho đến nay, ông C đã tìm mọi cách liên hệ tất cả anh em họ hàng, bạn bè quen biết nhờ tìm kiếm nhưng không có bất kỳ tin tức gì của bà H và cũng không biết hiện nay bà H đang ở đâu.
Để có cơ sở làm thủ tục ly hôn với bà Nguyễn Thị Xuân H, ông C đề nghị Tòa án nhân dân thành phố NT tuyên bố một người mất tích đối với vợ ông là bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1982 - nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: 30 T, phường T, thành phố NT.
Phát biểu tại phiên họp, kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân thành phố NT thụ lý giải quyết việc dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 27 , Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định . Về nội dung vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Duy C về việc tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1982 – Nơi cư trú cuối cùng: 30 T, phường T, thành phố NT . Ông C phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Việc dân sự và đã được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố NT nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu, ông Phạm Duy C đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh bà Nguyễn Thị Xuân H biệt tích theo quy định và tại xác nhận của Công an phường T, thành phố NT ngày 12/12/2017 thể hiện bà Nguyễn Thị Xuân H đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2013 đến nay. Căn cứ Khoản 3 Điều 27 và Điều 35, điểm b Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân thành phố NT thụ lý vụ việc là có căn cứ.
Về nội dung: Ông Phạm Duy C và bà Nguyễn Thị Xuân H tự nguyện C sống và đăng ký kết hôn tự nguyện năm 2011 tại UBND phường T, thành phố NT. Trong quá trình C sống, bà Nguyễn Thị Xuân H đã bỏ nhà ra đi từ cuối năm 2013 cho đến nay không liên lạc với gia đình và hiện nay ông Phạm Duy C không biết bà Nguyễn Thị Xuân H đang ở đâu. Nay ông C đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân H mất tích để có cơ sở để giải quyết ly hôn giữa ông và bà H.
Theo đơn xác nhận của Công an phường T, thành phố NT ngày 12/12/2017 xác nhận bà Nguyễn Thị Xuân H – sinh năm 1982 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: 30 T, phường T, thành phố NT và bà H không có mặt tại địa phương từ năm 2013 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân thành phố NT ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2018/QĐ-TA ngày 23/01/2018; đăng trên báo Thanh Niên trong ba số liên tiếp là các ngày 03, 04, 05/02/2018 (Hóa đơn giá trị gia tăng số 0028863 ngày 31/01/2018) và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp là các ngày 01 , 02, 03/02/2018 (Phiếu thu sô 310113 ngày 31/01/2018).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị Xuân H đã biệt tích từ 02 năm liền trở lên tại nơi cư trú cuối cùng. Tòa án đã áp dụng biện pháp thông báo, tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị Xuân H theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đầu tiên công bố trên báo hàng ngày và phát sóng trên đài phát thanh nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Nguyễn Thị Xuân H. Do đó, ông Phạm Duy C yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Xuân H mất tích là có cơ sở và đúng theo quy định điều 68 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận.
Ông Phạm Duy C và bà Nguyễn Thị Xuân H không có tài sản C và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết quản lý tài sản của bà H nên không Toà án không xem xét.
Về lệ phí: Ông Phạm Duy C phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Điều 27; Điều 149; Điều 370, 372; 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Luật phí và lệ phí số 97/2017/Qh13 ngày 25/11/2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Duy C.
Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị Xuân H – sinh năm 1982, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: 30 T, phường T, thành phố NT mất tích.
2. Về lệ phí: Ông Phạm Duy C phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai số AA/2016/0008110 ngày 28/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố NT. Như vậy ông C đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố NT; - Chi cục thi hành án dân sự TP NT; - UBND phường T, NT. - Lưu: + Án văn + Hồ sơ. | THẨM PHÁN Lê Thị Hồng Minh |