- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị S Yêu cầu tuyên bố ông Phan D mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Nguyễn Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2018/QĐDS-ST Ngày: 27-4-2018 V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Châu Thạch - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Ông Võ Thành Luân – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 146/2017/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 06/2018/QĐPH – ST ngày 16 tháng 4 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị S; cư trú tại đường P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan D; nơi cư trú cuối cùng: đường P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố ông Phan D, sinh năm: 1944 (chồng bà S) mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nhận định:
Vào năm 1970 bà Nguyễn Thị S và ông Phan D có quan hệ tình cảm với nhau, chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, có hai người con là Phan Thị Duyên Th, sinh năm 1972 và Phan Huy T, sinh năm 1974, ông bà chung sống với nhau tại đường P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuối năm 1974 bà S và ông D mâu thuẫn nhau nên ông đã đi ở nơi khác, vợ chồng không liên lạc với nhau. Từ năm 1975 đến nay bà đã liên hệ với gia đình ông D để tìm hiểu thông tin nhưng không có tin tức gì. Nay bà Nguyễn Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với ông Phan D.
Xét việc yêu cầu của bà Nguyễn Thị S là có căn cứ và đúng pháp luật bởi lẽ ông Phan D đã biệt tích hơn 02 năm liền, cho đến nay vẫn không liên lạc hay thông tin với gia đình; theo xác nhận của Công an Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì ông D đã bỏ nhà đi đâu không rõ, hiện không có mặt tại địa phương. Bà S đã làm thủ tục đăng báo và nhắn tin tìm kiếm ông D trên báo hàng ngày của Trung ương, Đài tiếng nói Việt Nam và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của ông D nên cần chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên bố ông D mất tích.
Về lệ phí: tại thời điểm giải quyết bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1948, đã được 70 tuổi, theo quy định của pháp luật thì bà S là người cao tuổi nên miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm cho bà S.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 40; các Điều 149, 387, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Nguyễn Thị S.
Tuyên bố ông Phan D, sinh năm: 1944; nơi cư trú cuối cùng: đường P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp:
Miễn lệ phí sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S, bà S được nhận lại số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001728 ngày 06/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thời hạn kháng cáo là 10 (mười) ngày kể từ ngày ban hành quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND tp.Đ; - Chi cục THADS tp. Đ; - Đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN Huỳnh Châu Thạch |