vanban.org

Quyết định 10/2018/QĐ-PQTT — Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 08/10/2018 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu Hủy quyết định Phán quyết

Trọng tài vụ kiện số 22/16 được lập ngày 03/01/2017 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, giữa: Bên yêu cầu: Công ty cổ phần H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu Hủy quyết định Phán quyết
  • Căn cứ chính? Điều 71 Luật Trọng tài thương mại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 10 /2018/QĐ-PQTTHà nội, ngày 08 tháng 10 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT ĐƠN YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ: Ông Lê Thanh Bình

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Thái Sơn

Ông Nguyễn Thanh Hưng

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Căn cứ vào khoản Điều 71; Điều 72 Luật Trọng tài thương mại.

Căn cứ các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu bao gồm: Phán quyết

trọng tài vụ tranh chấp số 22/16 lập ngày 03 tháng 01 năm 2017 tại Hà Nội của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC); Bản sao Hợp đồng kinh tế số 011015/HNP-VNL ngày 01 tháng 10 năm 2015; Công văn của các bên và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ việc.

Sau khi xem xét Đơn yêu cầu huỷ phán quyết Trọng tài đề ngày 25/5/2017

của Công ty cổ phần H, địa chỉ trụ sở: Lô 6B, CN5, cụm công nghiệp N, huyện T, thành phố Hà Nội, là bị đơn theo Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 22/16 ngày 03 tháng 01 năm 2017 tại Hà Nội của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bởi Hội đồng trọng tài gồm có ông Võ Nhật Thăng- Chủ tịch Hội đồng Trọng tài và các ông Ngô Khắc Lễ, Phan Hữu Thư - thành viên Hội đồng Trọng tài, giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa:

Bên yêu cầu: Công ty cổ phần H

Địa chỉ trụ sở: Lô 6B, CN5, cụm công nghiệp N, huyện T, thành phố Hà

Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Huy M - Chủ tịch Hội đồng Quản trị

và Bà Nguyễn Thị O - Tổng Giám đốc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên yêu cầu: Ông Phạm Thế

V và ông Trần Quốc H - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Bên liên quan: Công ty cổ phần L

Địa chỉ: Số 145-147 Đường N, phường I, quận E thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Nam T - Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Lan A, địa chỉ: Phòng 804 nhà CT6-

DDN khu đô thị mới Đ, quận H, Hà Nội (theo Văn bản ủy quyền số 3775 ngày 26/7/2017).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bên liên quan, Công ty cổ phần

L:Luật sư Hoàng Ngọc G, Nguyễn Duy N và Nguyễn Văn C - Công ty Luật TNHH H thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG :

Ngày 01/10/2015, Công ty cổ phần H ký hợp đồng dịch vụ vận chuyển số

011015 với Công ty cổ phần L, theo đó Công ty cổ phần L nhận vận chuyển lô sách giáo khoa từ cảng P tới kho của Bộ giáo dục Afghanistan tại Kabul Afghanistan cho Công ty cổ phần H. Tất cả lô hàng được đóng trong 36 container, trong đó 13 container được Công ty cổ phần L tiếp nhận và chở từ khu công nghiệp N, Hà Nội đến cảng V, Hải phòng để xếp lên tàu biển, 03 container được Công ty cổ phần L tiếp nhận từ Công ty cổ phần H tại phường Q để đưa ra cảng xếp lên tàu, còn lại 20 container do Công ty cổ phần H chở trực tiếp từ kho của mình ở huyện N xuống thẳng cảng P giao cho Công ty cổ phần L tại cảng để xếp lên tàu biển chở đi Kabul Afghanistan. Việc đóng, chất xếp các quyển sách giáo khoa vào từng thùng carton, từng palet và từng contairner do Công ty cổ phần H tiến hành. Cùng ngày 01/10/2015, Công ty cổ phần L và Công ty cổ phần H ký phụ lục số 01 quy định danh sách hàng hóa với tổng số lượng sách giáo khoa là 8.198.052 quyển và các phụ lục hợp đồng số 02 về mẫu biểu biên bản xác nhận tình trạng hàng hóa, số 03 về danh sách chứng từ cần cung cấp, số 04 về các loại chi phí, số 05 về bảng kê chi phí và số 06 về kế hoạch và thực hiện vận chuyển hàng hóa.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần L đã vận chuyển hàng hóa

từ cảng P đến kho của Bộ giáo dục Afghanistan tại Kabul. Sau đó, Công ty cổ phần L đã thông báo cho Công ty cổ phần H tổng số tiền cước vận chuyển lô hàng là 4.665.786.000 đồng và gửi giấy đề nghị thanh toán 80% giá trị tiền cước là 3.732.628.800 và bàn giao cho Công ty cổ phần H các giấy tờ thanh toán bao gồm: Hóa đơn giá trị gia tăng; Biên bản giao nhận hàng hóa có xác nhận của Bộ giáo dục Afghanistan; Biên bản trả 36 container rỗng về Karachi. Ngày 23/02/2016, Công ty cổ phần L có văn bản yêu cầu Công ty cổ phần H thanh toán nốt 20% tiền cước còn lại là 933.157.200 đồng nhưng Công ty cổ phần H vẫn chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty cổ phần L.

Ngày 20/5/2016, Công ty cổ phần L khởi kiện Công ty cổ phần H ra Trung

tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VIAC) yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ tiền cước vận chuyển là 4.665.786.000 đồng, lãi suất trả chậm là 24.105.561 đồng và chi phí thuê luật sư là 50.000.000 đồng.

Ngày 27/10/2016 nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể: tiền cước vận

chuyển vẫn giữ nguyên là 4.665.786.000 đồng, tiền lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng V từ 10/2/2016 trên số nợ gốc là 3.732.628.800 đồng là 179.943.813 đồng và từ ngày 04/3/2016 đến 02/11/2016 trên số nợ gốc 933.157.200 đồng là 41.110.758 đồng, phí luật sư là 88.000.000 đồng.

Tại Quyết định trọng tài vụ kiện số 22/16 ngày 28/6/2016 của Hội đồng

trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam xét xử vụ kiện, Hội đồng trọng tài căn cứ vào các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam, quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC đã phán quyết:

1. Buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền 4.665.786.000

(bốn tỷ, sáu trăm sáu mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn) đồng;

2. Buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn khoản tiền phạt chậm

thanh toán là 16.810.000 (mười sáu triệu tám trăm mười nghìn) đồng;

3. Buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn khoản tiền phí luật sư mà

Nguyên đơn đã thanh toán cho Công ty Luật TNHH H số tiền là 33.000.000 (ba mươi ba triệu) đồng;

4. Nguyên đơn phải chịu chi phí Trọng tài đối với Đơn khởi kiện của

Nguyên đơn là 10.735.117 (mười triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy) đồng. Bị đơn phải chịu phí Trọng tài đối với Đơn khởi kiện của Nguyên đơn là 246.085.868 (hai trăm bốn mươi sáu triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm sáu mươi tám) đồng. Do Nguyên đơn đã ứng trước toàn bộ phí trọng tài đối với Đơn khởi kiện, Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn khoản phí trọng tài là 246.085.868 (hai trăm bốn mươi sáu triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, tám trăm sáu mươi tám) đồng.

5. Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn các khoản tiền nêu trên trong

thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập Phán quyết trọng tài. Trường hợp Bị đơn chậm thanh toán các khoản tiền nêu trên, thì Bị đơn còn phải trả cho Nguyên đơn tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất không kỳ hạn do Ngân hàng TMCP N công bố tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

6. Bác các yêu cầu trong Đơn kiện lại của Bị đơn. Bị đơn phải chịu toàn

bộ phí trọng tài đối với Đơn kiện lại.

7. Phán quyết Trọng tài này được lập thành 03 bản, Phán quyết trọng tài

này là chung thẩm, ràng buộc các Bên và có hiệu lực kể từ ngày lập tức ngày 03/01/2017.

Không đồng ý với Quyết định trọng tài nêu trên, Công ty cổ phần H đã

làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý việc kinh doanh thương mại về việc “Yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài” đối với Phán quyết của trọng tài trong vụ kiện số 22/16 ngày 03/01/2017 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam giữa Công ty cổ phần L và Công ty cổ phần H.

Ngày 09/3/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý việc kinh doanh

thương mại về việc “Yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài” nêu trên.

Ngày 17/5/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định đình chỉ

việc giải quyết việc kinh doanh thương mại nêu trên do người yêu cầu hai lần vắng mặt tại phiên họp xét đơn Yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài.

Ngày 25/5/2017, Công ty cổ phần H tiếp tục gửi đơn Yêu cầu hủy Phán

quyết trọng tài đối với Phán quyết của trọng tài trong vụ kiện số 22/16 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đếnTòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Ngày 11/7/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý việc kinh doanh

thương mại số 08/2017/TL- KDTM về việc “Yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài” lần thứ hai.

Quá trình tiến hành tố tụng Công ty cổ phần H vẫn giữ nguyên yêu cầu

hủy Phán quyết trọng tài và cho rằng Phán quyết số 22/16 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Giấy ủy quyền của Công ty cổ phần L xuất trình cho Hội đồng Trọng tài là giả mạo.

Không đồng ý với yêu cầu hủy phán quyết của Bên yêu cầu (Công ty cổ

phần H), Bên liên quan (Công ty cổ phần L) cho rằng Bên yêu cầu không có một chứng cứ nào chứng minh Giấy ủy quyền của Bên liên quan xuất trình cho Hội đồng Trọng tài là giả mạo. Bên yêu cầu cho rằng Phán quyết số 22/16 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nhưng không chỉ ra được cụ thể là vi phạm nguyên tắc nào. Mặt khác, khi xem xét yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài, Tòa án chỉ xem xét về quy trình tố tụng trọng tài chứ không xét xử lại về nội dung tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết.

Tại phiên họp vị đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát

biểu ý kiến và đề nghị:

- Căn cứ Khoản 2 Điều 31, Điều 415 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 69, Điều

71, Điều 72 Luật Trọng tài thương mại; Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao. Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu Hủy quyết định Phán quyết Trọng tài vụ kiện số 22/16 được lập ngày 03/01/2017 của Hội đồng trọng tài - Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

- Về lệ phí xét đơn yêu cầu: Bên yêu cầu phải chịu lệ phí kinh doanh

thương mại theo quy định của pháp luật.

- Khi có quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, các

bên không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

XÉT THẤY

Sau khi xem xét đầy đủ và toàn diện những tài liệu chứng cứ có trong hồ

sơ giải quyết việc kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2017/TL- KDTM ngày 11/7/2017. Hội đồng xét đơn yêu cầu Xét thấy: Việc thụ lý lại đơn yêu cầu “Hủy Phán quyết trọng tài” Ngày 25/5/2017 của Công ty cổ phần H đối với Phán quyết của trọng tài trong vụ kiện số 22/16 ngày 03/01/2017 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam giữa Công ty cổ phần L và Công ty cổ phần H là không đúng với quy định của Pháp Luật. Cụ thể tại khoản 10 điều 71 Luật trọng tài thương mại quy định “Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành”, Tại mẫu số 07 được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định luật trọng tài thương mại quy định: “Khi có quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, các bên không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”, do đó Bên yêu cầu không có quyền gửi đơn đề nghị Tòa án hủy Phán quyết trọng tài lần thứ hai, bởi lẽ vụ việc trên đã được giải quyết bằng một Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật.

Về lệ phí: Công ty cổ phần H phải chịu 500.000 đồng lệ phí kinh doanh

thương mại. Khi có quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, các bên không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Từ những nhận định trên

- Căn cứ Khoản 2 Điều 31, Điều 361, Điều 369, Khoản 3 điều 414, Điều

415 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 10 điều 71, Điều 72 Luật Trọng tài thương mại;

- Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội

đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội;

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu Hủy quyết định Phán quyết

Trọng tài vụ kiện số 22/16 được lập ngày 03/01/2017 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, giữa:

Bên yêu cầu: Công ty cổ phần H.

Địa chỉ trụ sở: Lô 6B, CN5, cụm công nghiệp N, huyện T, thành phố Hà

Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Huy M - Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

Bà Nguyễn Thị O – Tổng Giám đốc

Bên liên quan: Công ty cổ phần L

Địa chỉ: Số 145-147 Đường N, phường I quận E thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Nam T - Tổng Giám đốc.

2. Về lệ phí: Công ty cổ phần H phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng lệ

phí kinh doanh thương mại, số tiền này được trừ vào số tiền Công ty cổ phần H đã nộp tạm ứng 500.000 (năm trăm nghìn) đồng theo biên lai số 04757 ngày 28/06/2017 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

3. Khi có quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài,

các bên không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

4. Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành

kể từ ngày ký, các bên, Hội đồng trọng tài, Trọng tài viên không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị.

Cỡ chữ