- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Dương Ngọc Thanh- Đỗ Thị Thủy"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Đỗ Thị T, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình hiện nay mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2017/QĐVDS - ST Ngày 10/7/2017 “V/v tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Phú Quảng - Thẩm phán.
Đại diện viện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Đinh Văn Phúc – Kiểm sát viên.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Quảng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
Hôm nay, vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 7 năm 2017. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, mở phiên họp giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo hồ sơ thụ lý số: 03/2017/TLST - VDS ngày 16 tháng 02 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện B, theo quyết định mở phiên họp số 03/QĐ – PH ngày 26/6/2017, giữa:
Người yêu cầu: Anh Dương Ngọc Th, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình.
(Tại phiên họp có mặt anh Dương Ngọc Th).
NHỮNG VẤN ĐỀ YÊU CẦU TOÀ ÁN GIẢI QUYẾT:
Anh Dương Ngọc Th, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình đã kết hôn với chị Đỗ Thị T, sinh năm 1979 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uy ban nhân dân xã S vào ngày 23/01/2014, sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn nên đã bàn bạc với nhau để chị T đi làm ăn tại Miền nam. Ngày 03/02/2015 chị T đã đi vào Miền nam để làm ăn, nhưng ở địa phương nào chị T không cho anh biết. Kể từ thời gian đó cho đến nay chị T không hề trở về hay liên lạc với bất kỳ ai kể cả gia đình anh em, bà con… bên chị T , hiện nay không hề có tin tức địa chỉ gì, anh và gia đình nội, ngoại đã tìm kiếm khắp nơi, nhưng không có kết quả. Hiện nay anh Th không biết chị T đang làm gì, ở đâu.
Tại giấy xác nhận của Công an xã S và của bà Hoàng Thị X (Mẹ chị T ): Chị Đỗ Thị T đã đi khỏi địa phương từ ngày 03/02/2015 đến nay không có mặt tại địa phương, không liên lạc với gia đình, gia đình và chính quyền địa phương không biết chị Đỗ Thị T hiện nay làm gì, ở đâu. Vì thế anh Dương Ngọc Th yêu cầu Toà án tuyên bố chị Đỗ Thị T hiện nay mất tích.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bnhận định:
Về tố tụng: Đây là việc dân sự, không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi sự kiện pháp lý được xác định sẻ dẫn đến việc phát sinh, thay đổi chấm dứt một quan hệ pháp luật. Như vậy từ sự kiện Tòa án tuyên bố chị Đỗ Thị T mất tích mới là cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối chị T . Tòa án nhân dân huyện Bthụ lý để giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Sau khi thụ lý việc anh Th yêu cầu Toà án nhân dân huyện Btuyên bố chị Đỗ Thị T mất tích, trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ do anh Th cung cấp, gia đình của chị T trình bày và xác nhận của Chính quyền địa phương xã S, có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Th và chị T , con chung giữa hai người, thời gian chị T biệt tích...như anh Th đã trình bày là đúng, mặt khác phía gia đình chị T cũng đề nghị Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu của anh Th để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đồng thời Toà án nhân dân huyện Bđã làm thủ tục thông báo và công bố thông báo được đăng trên báo Công lý trong ba số liên tiếp đó là 16, 17 và 18 phát hành vào các ngày 24/02 và 01, 03/3 năm 2017 ở mục Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và phát sóng trên đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp, đó là vào lúc 11 giờ 50 phút vào các ngày 28/02 và 01, 02/3/2017. Tuy nhiên hết thời hạn thông báo tìm kiếm chị T 04 tháng, nhưng chị T không trở về và cũng không có tin tức gì của chị Đỗ Thị T. Như vậy có đủ căn cứ để tuyên bố chị Đỗ Thị T hiện nay mất tích.
Về con chung và tài sản chung: không có.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bphát biểu quan điểm: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ việc dân sự và lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, có căn cứ xác định ngày 03/02/2015 là thời gian chị T đi khỏi địa phương, không cắt tạm trú, tạm vắng, hiện nay không có tin tức, địa chỉ gì của chị T . Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh Dương Ngọc Th và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Báp dụng khoản 3 Điều 27, các Điều 387 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự để tuyên bố chị Đỗ Thị T hiện nay mất tích và đề nghị Toà án buộc anh Th phải chịu lệ phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 27, các Điều 370, Điều 387, Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự, chấp nhận đơn của anh Dương Ngọc Th yêu cầu tuyên bố chị Đỗ Thị T mất tích.
Tuyên bố chị Đỗ Thị T, sinh năm 1979; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Đ, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình hiện nay mất tích.
Về con chung và tài sản chung: không có.
2. Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Buộc anh Dương Ngọc Th phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B(Biên lai số AA/2015/0001924 ngày 16/02/2017). Anh Th đã nộp đủ tiền lệ phí.
Anh Dương Ngọc Th có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp
| Nơi nhận: - TAQB; - VKSND huyện B; - Chi cục THA dân sự B; - Người yêu cầu; - Niêm yết tại UBND xã S; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Nguyễn Phú Quảng |