- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hoàng Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hoàng Văn T tuyên bố chị Phạm Thị L – sinh năm 1976, có nơi cư trú cuối cùng tại Đội 3, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bị mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Số:10/2017/QĐDS-ST Ngày 20/9/2017 V/V “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN
Với thành phầngiải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Ngân - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Hiền - kiểm sát viên.
Ngày 20/9/2017, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2017/TLST-DS ngày 05/5/2017 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp số: 10/2017/QĐPH ngày 05/9/2017.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Hoàng Văn T- sinh năm 1975; địa chỉ: Đội 3, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - có mặt.
NHỮNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT
Theo đơn yêu cầu và theo bản tự khai của anh T thì anh và chị L sinh năm 1976 kết hôn với nhau vào ngày 05/12/1992, trên cơ sở tự nguyện và có chứng nhận kết hôn tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì chị L tự ý bỏ nhà đi. Kể từ năm 2004 cho đến nay chị L bỏ đi biệt tích khỏi gia đình và địa phương, từ khi chị L bỏ nhà đi không có tin gì cho anh T và gia đình, có xác nhận của UBND xã L. Anh T cũng đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm bạn bè, anh em nhưng vẫn không có tin gì của chị L, để ổn định cuộc sống, anh T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn tuyên bố chị L mất tích. Về tài sản do chị L không có tài sản riêng, nên anh T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chị L.
Sau khi anh T có đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, thông báo đã được nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Công lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp: Tòa án nhận định: Việc chị L bỏ nhà đi từ năm 2004 đến nay là thực tế, các tài liệu được phản ánh trong hồ sơ cũng như ý kiến trình bày của anh T, đã thể hiện từ đó đến nay chị L không có tin gì cho chồng, gia đình người thân. Tòa án đã áp dụng biện pháp tìm kiếm, đăng tin, nhắn tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể nhắn tin trên báo công lý 3 số liên tiếp 37,38,39 vào ngày 10; 12 và 17/5/2017; nhắn tin trên đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 11h50 ngày 11,12,13/5/2017. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo nhắn tin theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của chị L. Như vậy có đủ cơ sở kết luận chị Phạm Thị L đã mất tích, do đó nghĩ cần chấp nhận yêu cầu của anh T về việc tuyên bố chị L bị mất tích.
Về tài sản: Chị L không có tài sản riêng và anh T không yêu cầu nên không phải áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.
Về chi phí đăng tin, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự thì chi phí trên do người yêu cầu phải chịu. Do vậy, anh T phải chịu toàn bộ chi phí đăng tịn, phát thông báo nói trên theo định của pháp luật.
Về lệ phí: Anh T phải chịu lệ phí giải quyết viêc dân sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên .
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 361; 366; 370; 371; 372; 387; 388; 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 35: khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hoàng Văn T tuyên bố chị Phạm Thị L – sinh năm 1976, có nơi cư trú cuối cùng tại Đội 3, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bị mất tích.
2.Về lệ phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số: 0004467 ngày 04 tháng 5 năm 2017, của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn. (anh T đã nộp đủ tiền lệ phí).
Báo cho anh T biết có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - Người yêu cầu; - CC thi hành án dân sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đỗ Thị Ngân |