- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Đặng Công Q - Ông Phạm Thành L, Bà Lê Thị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của nguyên đơn ông Đặng Công Q.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 202 Luật Đất đai
| TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/2017/QĐ-PT | Bà Ria-Vũng Tàu, ngày 27 tháng 07 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đoàn Ngọc Thiện
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Thiện
Bà Nguyễn Thị Phương Bắc
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 23 tháng 03 năm 2017, Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ đã căn cứ vào Điểm a, khoản 1 Điều 192 và Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Công Q, sinh năm 1938 (Chết ngày 12/12/2014),
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Q:
1. Ông Đặng Công T, sinh năm 1979
2. Ông Đặng Chí C, sinh năm 1960
3. Bà Đặng Ngọc T, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Tổ a, Ấp T, xã P, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
4. Bà Đặng Thị N, sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ b, Ấp A, xã A, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Ông Lê Hoàng M, theo văn bản ủy quyền số 01ngày 20/01/2015, số 31 ngày 21/01/2015 và số 40 ngày 05/02/2015.
Địa chỉ: 756 Đoàn Văn B, phường A, Quận 4, TP.Hồ Chí Minh.
Thường trú: Tổ a, ấp P, xã T, H. Tân Thành, tỉnh BR-VT.
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Thành L, sinh năm 1951
Địa chỉ: 48Q 1 Khu phố L, thị trấn L, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1946
Địa chỉ: 2/5A Tổ 2, Ấp A, xã A, huyện Long Điền, tỉnh BRVT.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1959;
Người đại diện hợp pháp của ông Thành: Ông Phạm Thành L, theo văn bản ủy quyền số134 ngày 23/3/2015.
Cùng địa chỉ: Số a Khu phố L, thị trấn L, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2. Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Địa chỉ: Số 153 đường 27/4, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T, Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn T, Chức vụ: Phó Trưởng phòng Ban quản lý rừng phòng hộ; theo văn bản ủy quyền ngày 26/10/2016.
3. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Văn B, Chức vụ: Chủ tịch.
Tại đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Hoàng M đề ngày 10/04/2017, với lý do: Căn cứ vào các Điều 100, 202, 203 của Luật đất đai năm 2013 quy định thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ. Vì thế, ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2017/QĐST-DS ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông Đặng Công Q và ông Phạm Thành L , bà Lê Thị N là có một phần do ông Q nhận chuyển nhượng 01 cái đùng của ông Trần Hưng B tại Rạch Cây Vông cũ thuộc ấp Lộc An II, xã Phước Hải, huyện Long Đất, Đồng Nai, ngay cửa Sông Ray (nay là huyện Đất Đỏ) vào năm 1985. Cuối năm 1986, ông Q và ông Nguyễn Văn M, ông Trần Văn R và ông Huỳnh Văn B cùng khai thác đùng nuôi tôm thuộc khu vực Rạch Bến Khỉ. Đến đầu năm 1989, do việc nuôi tôm gặp nhiều thất bại, kinh tế lại khó khăn không có vốn để tiếp tục đầu tư làm ăn chung với nhau, nên ông M, ông R và ông B đã giao lại toàn bộ diện tích đất đùng cho ông Q toàn quyền sử dụng.
Ngày 20/4/1989, ông Q làm “Tờ hợp đồng làm đùng nuôi tôm” với ông Phạm Thành L , nội dung: Đùng cây Vông có 02 ngăn, bên ông Q đã làm một phần, phần còn lại bên ông L tiếp tục làm hoàn tất, lợi nhuận thu được 1/10 giao cho bên ông Q để phòng khi sửa chữa đùng, phần còn lại được chia đều cho hai bên.
Ngày 16/01/1996, UBND huyện Long Đất cấp “Phiếu tạm cấp nuôi trồng thủy sản” giao diện tích mặt nước 03ha, diện tích rừng ngập mặn 04ha, thuộc thửa 26, 27, 28, 29 và 30, tờ bản đồ số 01 Rạch Cây Vông cho ông Q để khai thác nuôi trồng thủy sản.
Ngày 12/3/1996, ông Q có “Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” gửi UBND huyện Long Đất đối với đất đùng tại Bến Khỉ rạch Cây Vông để nuôi trồng thủy sản diện tích 99.631m2, nguồn gốc đất là tự khai phá năm 1985 và được Hội đồng xét duyệt xã Phước Long hội xác nhận.
Năm 1997, ông Q đi đăng ký quyền sử dụng đất thì phát hiện việc ông L và bà N đã lập hồ sơ ly hôn tại Tòa án huyện Đất Đỏ và đã có thỏa thuận chia nhau sử dụng phần đất đã thuê của Ông. Đầu năm 1998, ông L và bà N được Tòa án giải quyết về việc ly hôn và tự thỏa thuận phân chia tài sản chung trong đó có phần đất của ông Q cho thuê. Cùng năm 2008, bà N được UBND huyện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng từ đó hai bên đã xẩy ra tranh chấp. Diện tích đất tranh chấp hiện nay được xác định theo kết quả đo vẽ là 105.068m2 thuộc các thửa 10, 16, 17, 18, 19 (Cũ là thửa 26, 28, 29, 30), tờ bản đồ số 17, 18 tọa lạc tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ, tỉnh BR-VT. Kể từ trước đến nay, ông Q và ông L không có lập hợp đồng nào với Ban quản lý rừng phòng hộ. Hiện nay đất tranh chấp được UBND tỉnh quy hoạch tách ra khỏi lâm phần phòng hộ với diện tích 253ha để phục vụ mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo Quyết định số 1184/QĐ-UBND ngày 10/6/2014 của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Các Sở, Ban, Ngành và UBND huyện Đất Đỏ đang phối hợp các thủ tục trình UBND tỉnh xem xét, thu hồi đất từ Ban quản lý rừng phòng hộ giao cho địa phương quản lý. Như vậy, ông Q là người đã sử dụng đất có nguồn gốc từ những năm 1985 đến nay, có thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước và được Nhà nước tạm giao quyền sử dụng đất để khai thác, nuôi trồng thủy hải sản. Về phía chính quyền địa phương cũng chưa có bất cứ một quyết định nào về việc thu hồi đối với diện tích đất đùng do ông Q khai phá, nhận chuyển nhượng và sử dụng từ những năm 1985 đến nay.
Năm 1998 ông Q phát sinh tranh chấp đất đùng với gia đình ông L , bà N , nhưng trong quá trình hòa giải tại UBND xã về việc giải quyết tranh chấp thì ông L cũng đã đồng ý thỏa thuận với ông Q là chia đôi diện tích đất đùng 69.111m2 mỗi bên sử dụng một nữa, nhưng rồi ông L cũng không thực hiện. Do đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q hay ông L , bà N là đúng theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai năm 2003 cũng như pháp luật hiện hành. Việc ông Q khởi kiện ông L , bà N để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là hoàn toàn đúng theo quy định tại Điều 4, Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều 100, 202 và 203 Luật đất đai năm 2013 và đúng theo nội dung của Quyết định Tái thẩm số 02/2011/QĐ-UBTP ngày 18/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tuyên xử: “…khi các đương sự có tranh chấp về quyền sử dụng diện tích đất đùng nêu trên thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác…”.
Do ông Q (đã chết) nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Q có quyền khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông L và bà N theo quy định tại Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 100, 202, 203 của Luật đất đai năm 2013 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Việc TAND huyện Đất Đỏ căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 192 và Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ vụ án đồng thời trả lại đơn khởi kiện là không đúng quy định. Bởi lẽ, Điểm a Khoản 1 Điều 192 được dẫn chiếu từ Điều 186 và 187 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng theo nội dung của Điều 186 và 187 BLTTDS thì các nguyên đơn không thuộc quy định tại các điều này, nên kháng cáo của phía nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận và cần hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 23/03/2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Căn cứ vào Điểm c Khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của nguyên đơn ông Đặng Công Q.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự số 05/2017/QĐST-DS ngày 23/03/2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu. Trả lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003424 ngày 14/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ cho ông Lê Hoàng Minh.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (Ngày 27/7/2017).
HỘI ĐỒNG XÉT QUYẾT ĐỊNH
CÁC THẨM PHÁN
| Nguyễn Thị Phương Bắc Huỳnh Ngọc Thiện | THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Đoàn Ngọc Thiện |