vanban.org

Quyết định 09/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày ông D bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông D có mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Phòng Lao động - Thương … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (D)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D.
  • Căn cứ chính? Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/QĐ-TAKế Sách, ngày 03 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thanh Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 10/2023/QĐ-TA ngày 23/02/2023, đối với:

Họ và tên: Ông D; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam; Sinh ngày: NN/NN/NNNN;

Số định danh cá nhân: NNNNNNNNNNNNN;

CMND số: NNNNNNNNN, ngày cấp: NN/NN/NNNN, nơi cấp: Công an tỉnh Sóc Trăng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12;

Quê quán: Xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

Nơi thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/10/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng. Ngày 31/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 18 tháng, đến ngày 23/10/2020 chấp hành xong.

Con ông: M và bà: T.

Ông D có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Hoàng Tuấn, chức vụ: Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Kịch, chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng theo văn bản ủy quyền của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Kế Sách ngày 03/3/2023.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ông D là người nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/02/2023. Ngày 08/02/2023, Công an xã B mời ông D thử test nhanh nước tiểu do có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, qua test nhanh kết quả xác định ông D “dương tính” với chất ma túy; Trạm y tế xã B cũng xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông D là có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: Ma túy đá (Methamphetamine).

Công an xã B tiến hành làm việc, hướng dẫn và động viên ông D trong 05 ngày làm việc kể từ ngày 08/02/2023 đến ngày 14/02/2023 phải đến Ủy ban nhân dân xã B để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng hết thời hạn mà ông D vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, Công an xã B đã lâ ̣p Biên bản vi pha ̣m số 03/BB-VPHC ngày 15/02/2023 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với ông D.

Cùng ngày 15/02/2023, Ủy ban nhân dân xã B ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ban hành Quyết định về việc giao cho gia đình quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D. Ngày 20/02/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B ban hành Đề nghị số 09/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D.

Ngày 21/02/2023, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách ban hành Đề nghị số 66/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D với thời hạn 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đại diện Viện kiểm sát nhận định quy trình lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D đã được các cơ quan tiến hành đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D với thời hạn 18 tháng theo đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị.

Người bị đề nghị là ông D thừ a nhâ ̣n vào ngày 07/02/2023 ông D đã có hành vi sử du ̣ng trái phép chất ma túy bị phát hiện, nhưng sau đó ông D đã không đến Ủy ban nhân dân xã B để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn quy định. Ông D thống nhất với việc đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D; về thời gian chấp hành thì ông D đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng đối với ông D với thời hạn 18 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và của người bị đề nghị, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách nhận định như sau:

Căn cứ vào biên bản ghi lời khai, bản tường trình của ông D, biên bản v/v lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị đã có đủ cơ sở để kết luận ông D là người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ); khoản 1 Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B; Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách có văn bản đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D là còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 40, 41, 42 và 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Ông D là ngườ i nghiê ̣n ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện; cụ thể, vào ngày 07/02/2023 ông D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phận xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; ngày 08/02/2023, Công an xã B mời ông D đến trụ sở lấy mẫu nước tiểu để tiến hành thử test nhanh, qua test nhanh kết quả xác định ông D “dương tính” với chất ma túy; Trạm y tế xã B cũng xác định tình trạng nghiện ma túy đối với ông D là có nghiện ma túy; tuy nhiên, trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy, ông D đã không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nêu trên; Công an xã B đã lâ ̣p Biên bản vi pha ̣m số 03/BB-VPHC ngày 15/02/2023 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với ông D. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông D đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm mất an ninh, trật tự ở địa phương, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của ông D, hơn nữa đây còn là nguy cơ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc ông D sử dụng trái phép chất ma túy là do nhận thức còn hạn chế. Do đó, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho ông D, để ông D sớm tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội, đồng thời để tạo điều kiện cho ông D chữa bệnh, lao đô ̣ng, ho ̣c văn hóa, ho ̣c nghề dướ i sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D với thời hạn 18 tháng là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020), nên Tòa án chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tại phiên họp là có căn cứ, nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 3, 20, 23, 24, 30, 31, 32 và 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ); các Điều 40, 41, 42 và 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày ông D bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Ông D có mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Nếu có khiếu nại thì ông D gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, trong đó nêu rõ lý do, căn cứ khiếu nại và tài liệu bổ sung (nếu có) để chứng minh cho khiếu nại của mình.

Nếu có kiến nghị, kháng nghị thì Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách gửi văn bản đến Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kế Sách phối hợp với Công an huyện Kế Sách đưa ông D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Cỡ chữ