vanban.org

Quyết định 09/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1.

Tuyên bố ông Nguyễn H năm 1991, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mất tích. Về chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2024/QĐST-VDSĐắk Song, ngày 26 tháng 9 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Lâm Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Đạt, chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-VDS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2024/QĐST-DS gồm những người tham gia tố tụng:

1. Người yêu cầu việc dân sự: Bà Trần Thị Mỹ O năm 1995; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có đơn xin vắng mặt.

2. Người bị yêu cầu: Ồng Nguyễn Hsinh năm 1991; Nơi cư trú cuối cùng: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu ngày 15/4/2024 và quá trình giải quyết bà Trần Thị Mỹ O1 trình bày:

Ngày 13 tháng 5 năm 2013 bà Trần Thị Mỹ O2 ông Nguyễn H năm 1991 tìm hiểu và chúng sống với nhau trên tinh thần tự nguyện không bị ép buộc hay lừa dối gì. Hai bên đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, tỉnh Đắk Nôngtheo giấy chứng nhận kết hôn số 32/2013. Bà O2 ông H1 chung hạnh phúc với nhau tại bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nôngnhưng sau đó thì xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Đến tháng 10 năm 2016 ông Nguyễn H2 đã bỏ nhà đi, gia đình và bạn bè không biết ông H đi đâu, làm gì ở đâu, hiện còn sống hay đã chết. Bà Trần Thị Mỹ O1 cũng đã tìm kiếm, nhắn tin trên thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của ông H3 Ngày 15/4/2024 bà Trần Thị Mỹ O1 đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên bố ông Nguyễn H2 mất tích theo quy định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và quan điểm về giải quyết đơn yêu cầu:

Trong quá trình tố tụng giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ từ quá trình thụ lý vụ việc, lập hồ sơ; Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng thủ tục, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng người bị yêu cầu vắng mặt. Vì vậy, vụ việc được giải quyết vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ việc: Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 180, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1 về việc tuyên bố ông Nguyễn H2, sinh năm 1991 mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật của vụ việc:

Ông Nguyễn H2 có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú cuối cùng tại B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Ngày 15/4/2024 bà Trần Thị Mỹ O1 đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên bố ông Nguyễn H2 mất tích. Vì vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Song và thuộc việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Người yêu cầu có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ việc:

Theo đơn yêu cầu giải quyết vụ việc thì bà Trần Thị Mỹ O2 ông Nguyễn H2 đăng ký kết hôn và sống chung với nhau từ 12/5/2013; bà O2 ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Trong quá trình chung sống với nhau đến ngày 30/10/2016 ông Nguyễn H2 bỏ nhà đi, không nói gì với ai trong gia đình., Gia đình và chính quyền địa phương không biết ông H đi đâu làm gì ở đâu, hiện còn sống hay đã chết. Bà Trần Thị Mỹ O1 cũng đã tìm kiếm, nhắn tin nhưng không có tin tức gì. Ngày 15/4/2024 bà Trần Thị Mỹ O3 đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên bố ông Nguyễn H2 mất tích.

Quá trình thu thập chứng cứ, tài liệu thể hiện: Trước khi Tòa án thụ lý việc yêu cầu tuyên bố mất tích thì chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú xác nhận ông Nguyễn H2 bỏ đi khỏi địa phương không có tin tức gì. Đồng thời, bà O cũng đã nhắn tin trên Đài tiếng nói tỉnh Đắk Nông và nhắn tin tìm kiếm ông Nguyễn H2 trên V

Sau khi thụ lý hồ sơ vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành xác minh ông Nguyễn H năm 1991; nơi cư trú tại B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì được chính quyền địa phương xác nhận: Ông Nguyễn H2 đã bỏ đi khỏi B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nôngtừ khoảng tháng 10 năm 2016, khi đi không khai báo gì nên chính quyền địa phương không biết đi đâu, làm gì ở đâu.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã ban hành quyết định số 01/2024/QĐ-TA ngày 03/5/2024 thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích với ông Nguyễn H4 Nội dung tìm kiếm đã được đăng thông báo nhắn tin trên Bliên tiếp 03 số 39,40 và 41 vào các ngày 15, 17 và 22 tháng 5 năm 2024 trên Bvà nhắn tin trên sóng Vphát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 17,18,19/5/2024.

Tại Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định:

“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng…”.

Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức gì của ông Nguyễn H2 hiện nay cư trú tại đâu. Trong thời gian thông báo đến ngày mở phiên họp ông Nguyễn H2 cũng không có mặt tại bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông Do đó, đã đủ căn cứ để kết luận ông Nguyễn H2 đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc còn sống hoặc đã chết. Xét thấy, yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận.

. Xét quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1 về việc tuyên bố ông Nguyễn H2 mất tích là có căn cứ nên cần chấp nhận.

. Về chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin:

Quá trình giải quyết việc dân sự chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin với số tiền là 3.100.000 đồng, chị Trần Thị Mỹ O1 phải chịu theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về án phí, lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Căn cứ Điều 149; Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị Trần Thị Mỹ O1 phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 180, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ O1.

Tuyên bố ông Nguyễn H năm 1991, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mất tích.

2. Về chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin:

Bà Trần Thị Mỹ O1 phải chịu số tiền là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) chi phí đăng, phát thông báo nhắn tin được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án.

3. Về án phí, lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Buộc bà Trần Thị Mỹ O1 phải nộp lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền mà bà O đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0004108 ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu và người bị yêu cầu vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ