- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ huỷ QĐ tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L. Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 27/2021/QĐST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hoá về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Bùi Thị L mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH THANH HOÁ ----------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2023/QĐST-VDS Ngày 22/02/2023 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỆC DÂN SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần giải quyết việc dân sự sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Cao Thị Nga.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc yêu cầu“Huỷ bỏ Quyết định tyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp số 17/2023/QĐPH- ST ngày 10 ngày 02 tháng 2023; Gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1986
Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Đức C, sinh năm 1987
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
* Theo đơn yêu cầu ngày 02/02/2023, bản tự khai ngày 07/02/2023 chị Bùi Thị L trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Đức C kết hôn tháng 6/2018 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian đến cuối năm 2018 vợ chồng lên Thạch Thành làm ăn. Trong thời gian này vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên anh Cửu bỏ về nhà ở, đến tháng 02/2019 chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Trong thời gian chị đi xuất khẩu lao động chị chỉ liên lạc về với gia đình còn không liên lạc gì với anh C nên anh C ở nhà làm đơn tuyên bố chị mất tích. Ngày 26/3/2021 Toà án nhân dân huyện H đã Quyết định tuyên bố mất tích theo Quyết định số 27/2021/QĐST-VDS, sau khi tuyên bố mất tích anh Cửu làm đơn ly hôn chị. Ngày 27/9/2021 Toà án nhân dân huyện H xử cho anh C được ly hôn chị theo bản án số 138/2021/HNGĐ- ST. Nay chị trở về cư trú tại địa phương và được biết Toà án đã tuyên bố chị mất tích và giải quyết ly hôn cho anh C nên chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện H huỷ bỏ Quyết định số 27/2021/QĐST-VDS ngày 26/3/2021 của Toà án nhân dân huyện H đã tuyên bố chị Bùi Thị L mất tích.
2. Về con chung: Chị và anh C chưa có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về tài sản và công nợ: Không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 07/02/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Đức C trình bày:
1. Về hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị L kết hôn năm 2018 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được mấy hôm thì cô L bỏ đi từ ngày 05/9/2018 đến nay. Trong thời gian cô L bỏ đi anh và gia đình đã tìm kiếm, liên lạc khắp nơi nhưng không ai biết địa chỉ, nơi ở của cô L nên tôi đã làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố cô L mất tích theo Quyết định số 27 ngày 26/3/02021, sau khi tuyên bố mất tích tôi đã làm đơn ly hôn và Toà án đã giải quyết cho tôi được ly hôn cô L. Từ sau khi Toà án tuyên bố mất tích và xử ly hôn tôi xũng không liên lạc với cô L. Nay cô L trở về và làm đơn yêu cầu huỷ quyết định tuyên bố mất tích, tôi cũng đồng ý và đề nghị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc huỷ bỏ Quyết định số 27/2021/QĐST-VDS ngày 26/3/2021 của Toà án nhân dân huyện H đã tuyên bố chị Bùi Thị L mất tích.
2. Về con chung, tài sản, công nợ: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, thư ký phiên họp và người yêu cầu trong quá trình giải quyết việc “Yêu cầu huỷ Quyết định tuyên bố một người mất tích” kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
* Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 70 của Bộ luật Dân sự; Điều 362; Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Bùi Thị L yêu cầu huỷ Quyết định tuyên bố một người mất tích số 27/2021/QĐST-VDS ngày 26/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại điện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc nhận định:
Về tố tụng: Chị Bùi Thị L có hộ khẩu thường trú ở khu Tống Ngọc, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá bị tuyên bố mất tích theo Quyết định số 27/2021/QĐST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc. Nay chị L trở về cư trú tại địa phương có đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố chị mất tích, do vậy Tòa án nhân dân huyện H thụ lý và giải quyết là đúng quy định. Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp người yêu cầu chị Bùi Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Đức Cửu có đơn xin được vắng mặt, căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt chị Bùi Thị L và anh Trịnh Đức C là đúng quy định.
. Về nội dung: Tại Quyết định số 27/2021/QĐST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bố chị Bùi Thị L mất tích. Sau khi bị tuyên bố mất tích, đến tháng 10/2022 chị Bùi Thị L đã trở về địa phương (có xác nhận của Công an thị trấn H, huyện Hậu Lộc và Công an xã T, huyện T). Như vậy, yêu cầu của chị L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc hủy bỏ quyết định số 27/2021/QĐST ngày 26/3//2021 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã tuyên bố chị Bùi Thị L mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 70 Bộ luật dân sự và Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về con chung, tài sản, công nợ: Không có, không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
. Về lệ phí: Chị Bùi Thị L chịu tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị L. Huỷ bỏ Quyết định giải quyết việc dân sự số 27/2021/QĐST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hoá về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Bùi Thị L mất tích.
Bản án số 138/2021/HNGĐ- ST ngày 27/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc giải quyết việc ly hôn giữa anh Trịnh Đức C và chị Bùi Thị L vẫn có hiệu lực pháp luật.
Về lệ phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000đ tiền lệ phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng lệ phí số AA/2022/0005179 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H (Chị L đã nộp đủ lệ phí).
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Bùi Thị L, anh Trịnh Đức C có quyền kháng cáo Quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện H ; - Chi cục THADS huyện H; - UBND thị trấn H; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Chủ Trì phiên họp (Đã ký) Cao Thị Nga |