- Tranh chấp gì? "09 cai nghiện bắt buộc PHAN MINH TRÔ 13.12"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Phan Minh T, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2005.
- Căn cứ chính? Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chínhsửa đổi bổ sung; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhsửa đổi bổ sung
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2023/QĐ-TA | Ninh Sơn, ngày 13 tháng 12 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Thái Thị Thùy D.
2. Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Khánh Linh.
Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 12/2023/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Phan Minh T.
Giới tính: Nam.
Sinh ngày 08 tháng 7 năm 2005.
Số CCCD: 058205004681; Ngày cấp: 13/5/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Phật giáo.
Trình độ văn hoá: 10/12.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC ngày 19/10/2022, bị Trưởng Công an xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 27/12/2022.
- Ngày 07/11/2022, bị Chủ tịch UBND xã H ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc Áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời hạn là 03 tháng, chấp hành xong ngày 08/02/2023, theo Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 01/GCN-XPTT ngày 08/02/2023 của Chủ tịch UBND xã H. Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022, bị Trưởng Công an xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Con ông: Phan Minh H và bà Nguyễn Thị P.
Xin vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Hồ Thanh T1 - Chuyên viên phụ trách Công tác Tệ nạn xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N (Giấy ủy quyền số 64/GUQ-PLĐTBXH ngày 24/11/2023).
Có mặt tại phiên họp.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận: Ông Phạm Tuấn - Kiểm sát viên.
Có mặt tại phiên họp.
NHẬN THẤY:
Vào các ngày 24/9/2022, 19/10/2022, Phan Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Trưởng Công an xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022 và 12/QĐ-XPHC ngày 19/10/2022. Trô đã chấp hành việc nộp phạt.
Đến ngày 26/10/2022, T lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã H, huyện N phát hiện, lập biên bản vi phạm, kết quả dương tính với ma túy. Xét thấy Phan Minh T có nơi cư trú ổn định nên ngày 07/11/2022, Chủ tịch UBND xã H ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc Áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời hạn là 03 tháng và cho phép T tự cai nghiện tại gia đình, dưới sự quản lý, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú. Trô đã chấp hành xong Quyết định trên, theo Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 01/GCN-XPTT ngày 08/02/2023 của Chủ tịch UBND xã H.
Ngày 24/10/2023, qua công tác tuần tra, Công an xã H phát hiện Trô có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, cho test nhanh, kết quả dương tính với ma túy (cần sa). Do đó, T bị lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Phiếu kết quả cùng ngày của Trung tâm y tế huyện N xác định: Phan Minh T nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là cần sa.
Tại bản tự khai và bản tường trình, T thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy nhiều lần.
Ngày 24/10/2023, T nhận Thông báo số 141/TB-CAX Thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và đề nghị T làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Tuy nhiên, T và gia đình cho biết sẽ không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên cùng ngày 24/10/2023 UBND xã H lập Biên bản vi phạm số 12/BB-VPHC về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Ngày 24/10/2023, UBND xã H ban hành Thông báo số: 101/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Minh T.
Ngày 24/10/2023, UBND xã H ban hành Quyết định số: 167/QĐ-UBND về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, giao T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận quản lý vì gia đình T không đồng ý quản lý.
Ngày 20/11/2023, hồ sơ được chuyển đến Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N.
Ngày 22/11/2023, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N ban hành Công văn số: 63/PLĐTBXH-CNBB và chuyển toàn bộ hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận.
Tại phiên họp:
Người đại diện của Cơ quan đề nghị - ông Hồ Thanh T1 trình bày:
Ngày 20/11/2023, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Minh T. Qua xem xét, hồ sơ đảm bảo tính pháp lý, Phan Minh T là đối tượng nghiện ma túy, chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ, vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép ma tuý.
Căn cứ căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhsửa đổi bổ sung, Đ c khoản 1 Điều 27, điểm b khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 3, Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 18/12/2022, Khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa Phan Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18-24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận.
Người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc - anh Phan Minh T xin vắng mặt tại phiên họp và có ý kiến trình bày:
Anh thừa nhận mình nghiện và nhiều lần sử dụng ma túy, bị xử phạt hành chính. Mặc dù đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Bản thân cũng đã từng đi cai nghiện tự nguyện nhưng cũng chưa chấp hành đủ thời hạn. Do đó, anh đồng ý với ý kiến của Cơ quan đề nghị về việc đề nghị Tòa án ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 – 24 tháng để anh có điều kiện cai nghiện.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn đã thực hiện trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Phan Minh T là đúng theo quy định của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.
Người bị đề nghị - Phan Minh T từ khi UBND xã H lập hồ sơ cho đến thời điểm mở phiên họp, thực hiện đúng quy định tại Điều 19 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.
Đối với cơ quan lập hồ sơ đề nghị là UBND xã H, Công an xã H thực hiện lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 30, 40, 41, 42, 44, 45, 46 Nghị định số: 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 và Điều 27, Điều 28, Điều 32 Luật phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14; Điều 96, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Đối với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N thực hiện đúng quy định tại các Điều 43 Nghị định số: 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Điều 27, 28, 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định pháp luật có liên quan.
- Về nội dung:
Phan Minh T là người nghiện ma túy, có 02 tiền sự chưa được xóa về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Trô bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã từ 08/11/2022, tiếp đó ngày 07/3/2023 đi cai nghiện tự nguyện đến ngày 06/6/2023 về nơi cư trú. Tuy nhiên, không thấy sự tiến bộ trong việc từ bỏ sử dụng ma túy, không cố gắng cai nghiện, không từ bỏ được cám dỗ của chất ma túy nên vào ngày 24/10/2023, T tiếp tục vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy cần sa bị phát hiện. Hành vi của đối tượng không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn ảnh hưởng sức khỏe bản thân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Minh T là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho đối tượng cai nghiện ma túy hiệu quả, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhsửa đổi bổ sung, Đ c khoản 1 Điều 27, điểm b khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 3, Điều 8, Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 18/12/2022, Khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy: Ủy ban nhân dân xã H, Công an xã H và Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện N lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc đối với Phan Minh T là đúng người, đúng quy định pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Phan Minh T với thời hạn 15 - 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Người đại diện Cơ quan đề nghị, Người bị đề nghị và Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
[1.1] Về thời hiệu áp dụng:
Tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi bổ sung năm 2020, khoản 1 Điều 9 của Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân quy định: Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép.
Xét thấy: Ngày 24/10/2023, Phan Minh T bị Công an xã H lập biên bản vi phạm hành chính lần cuối về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tính đến ngày 13/12/2023, là ngày Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phan Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì thời hiệu vẫn còn.
[1.2] Về thẩm quyền và trình tự, thủ tục lập hồ sơ:
Ngày 07/11/2022, T bị Chủ tịch UBND xã H ban hành Quyết định số 130/QĐ-UBND về việc Áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, với thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 08/11/2022. Trô chấp hành xong Quyết định trên, theo Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 01/GCN-XPTT ngày 08/02/2023 của Chủ tịch UBND xã H. Sau đó, T có đăng ký cai nghiện tự nguyện theo hợp đồng số 70/HĐDVCN ngày 07/3/2023 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận. Đến ngày 06/6/2023 khi chưa thực hiện cai nghiện đủ thời gian T đã tự chấm dứt Hợp đồng cai nghiện ma túy tự nguyện. Sau khi về địa phương, T không tự nguyện cai nghiện mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý và ngày 24/10/2023 bị Công an xã H lập biên bản vi phạm hành chính. Kết quả xét nghiệm tại Trung tâm y tế huyện N, kết luận: Phan Minh T có nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là cần sa.
Như vậy, chỉ sau hơn 08 tháng kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, T lại tiếp tục sử dụng ma túy nên thuộc đối tượng xác định tình trạng nghiện ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 27 của Luật Phòng, chống ma túy.
Sau khi nhận Thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, đề nghị Trô làm thủ tục đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nhưng Trô ý kiến sẽ không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên ngày 24/10/2023, UBND xã H ban hành Thông báo số: 101/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Minh T.
Trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, T được giao Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận quản lý vì gia đình T từ chối quản lý. Hồ sơ sau đó được chuyển đến Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N để đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận với thời gian là 18 - 24 tháng.
Thấy rằng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phan Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục, phù hợp với quy định tại các Điều 95, 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi bổ sung năm 2020, điểm c khoản 1 Điều 27 của Luật Phòng, chống ma túy, các Điều 33, 40, 41, 42, 43, 44, 45 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
[1.3] Về đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định:
“1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.”
Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy quy định:
“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;”
Điểm a khoản 1 Điều 33 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy quy định:
“1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Trưởng công an xã lập biên b n hành vi vi phạm … để làm căn cứ lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau:
a. Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện”.
Xét thấy: Phan Minh T là người đã thành niên, có nơi cư trú ổn định nhưng nghiện ma tuý, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy không đồng ý đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do đó, T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về đánh giá hành vi vi phạm của người bị đề nghị:
Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi bổ sung năm 2020 quy định:
“1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người c hành vi vi phạm quy định tại Điều của Luật này để ch a bệnh, lao động, học văn h a, học nghề dưới sự qu n lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng.”
Xét thấy: Phan Minh T là đối tượng nghiện ma tuý, nhiều lần có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ, không chịu tự nguyện cai nghiện mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của T không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của chính bản thân, mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng tình hình trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển của nòi giống dân tộc. Do đó, việc đưa Phan Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để tạo điều kiện cho Trô cai nghiện, chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp T trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là hoàn toàn cần thiết.
Xét đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn và ý kiến của người bị đề nghị: Việc đưa Phan Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên, xét thấy T là người chỉ vừa thành niên, thể hiện quyết tâm cai nghiện nên để tạo điều kiện cho T sớm về với gia đình, việc áp dụng mức thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T từ 15 tháng đến 18 tháng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Phan Minh T, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2005.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 24/10/2023 (Ngày Phan Minh T bị đưa vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
- Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Phan Minh T) có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Trường hợp ốm đau, thiên tai, địch họa hoặc trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hạn khiếu nại.
- Cơ quan đề nghị (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N) có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N phối hợp với Công an huyện N đưa người phải chấp hành quyết định (Phan Minh T) vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận, có địa chỉ tại: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Sơn; - Người bị đề nghị Phan Minh T; - Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ninh Sơn; - Công an huyện Ninh Sơn; - UBND xã H, huyện N; - Công an xã H, huyện N;; - Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Ninh Thuận; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN Thái Thị Thùy Dung |