vanban.org

Quyết định 09/2023/QĐ-TA

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 13/06/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau có quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U.
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2023/QĐ-TAC, ngày 13 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hồ Chí Thêm

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngọc San

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/2023/QĐ-TA ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Ông U, sinh ngày 01/01/1994; Giới tính: Nam; CCCD số: 096094005183; Ngày cấp: 25/8/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nguyên quán: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tiền án, tiền sự: Không. Con ông: D, sinh năm 1963 và bà G, sinh năm 1963; Vợ con: Chưa có. (Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn Sáu – Phó Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Bà Trần Bích Trâm – Kiểm sát viên (Có mặt).

NHẬN THẤY:

Vào ngày 23 tháng 5 năm 2023, ông U thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an xã Đ, huyện C lập biên bản thử test nước tiểu phát hiện nhanh chất ma tuý, kết quả cho thấy ông U dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma tuý đá). Trước đó, ông U bị Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo Quyết định số 239/QĐ-UBND, ngày 03/11/2022.

Tại Đề nghị số: 01/ĐN-CNBB ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C đã xác định hồ sơ đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C đối với ông U bảo đảm về tính pháp lý theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Văn bản đề nghị số: 08/ĐN-CNBB ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U. Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị vẫn giữ nguyên nội dung đề nghị.

Tại tờ tự nhận ngày 23/5/2023 và bản tường trình ngày 24/5/2023, ông U thừa nhận vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/5/2023 có sử dụng trái phép chất ma túy loại ma tuý đá tại nhà ấp K, xã Đ, huyện C, hình thức sử dụng là hít bằng miệng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý hồ sơ, giải quyết và tại phiên họp xem xét quyết định, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U thì Thẩm phán đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C thấy đủ căn cứ đưa ông U vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U.

XÉT THẤY:

Về trình tự, thủ tục: Cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại điểm a khoản1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/5/2023 ông U sử dụng ma túy và đến 23 giờ 10 phút cùng ngày bị Công an xã Đ, huyện C kiểm tra và đưa về cơ quan thử test nhanh chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Do đó, Công an xã Đ, huyện C đã lập biên bản vi phạm hành chính nên thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ông U đã bị Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện C ra Quyết định số 168/QĐ-UBND ngày 09 tháng 05 năm 2022 về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng và đã hoàn thành vào ngày 30 tháng 10 năm 2022 theo Giấy xác nhận số 12/GXN-CNTN của Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện C. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện C ra Quyết định số 239/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2022 quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với ông U mà ông U vẫn còn tái nghiện ma túy. Tại khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau: “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:…….4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện…”.

Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị Tòa án nhân dân huyện C xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U là phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Sau khi sử dụng ma túy và bị phát hiện, ông U đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, vừa chấp hành xong quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thì ông U vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông U không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, mà hành vi đó còn gây ảnh hưởng đến trật tự trong lĩnh vực quản lý hành chính. Bản thân ông U đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn không từ bỏ được chất ma túy. Đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát cũng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C. Xét thấy, ông U đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không đủ khả năng để tự mình cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, nên cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe; tạo điều kiện giúp ông U cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng, trở về cuộc sống bình thường.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 3, 20, 22, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các điều 95, 96, 104, 107 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; các điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông U.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Cà Mau; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau; Công an huyện C, tỉnh Cà Mau.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ