- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ T.N TỈNH T.N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 09-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN T PHỐ T.N, TỈNH T.N
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hồng Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và bà Trần Thanh Vân.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân T phố T.N, tỉnh T.N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố T.N tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân T phố T.N, tỉnh T.N xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 635/2022/TLST-HS ngày 09/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 564/2022/QĐXXST-HS ngày 12/2022, đối với bị cáo:
HOÀNG ĐÌNH C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22 tháng 4 năm 1994, tại T.N; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm BV 1, xã BS, T phố SC, tỉnh T.N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình Biên và bà Trần Thị Đào; có vợ là Bùi Thị Lê và 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
Bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2003, nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Tổ dân phố Đồi, phường BQ, T phố SC, tỉnh T.N, (có mặt).
2. Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 2002, nghề nghiệp: Lao động tự do, địa chỉ: Tổ dân phố An Châu 1, phường MC, T phố SC, tỉnh T.N, (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Quốc K, sinh năm 2001, địa chỉ: Tổ dân phố Tân Lập, phường TL, T phố SC, tỉnh T.N, (có mặt).
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Tiến T, sinh năm 1994, địa chỉ: Tổ dân phố Đồi, phường Bách Quang, T phố SC, tỉnh T.N, (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn Mão, sinh năm 1976, địa chỉ: Tổ dân phố An Châu 1, phường Mỏ Chè, T phố SC, tỉnh T.N, (vắng mặt).
3. Ông Trần Văn Chiến, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm Phú, xã TĐ, T phố T.N, tỉnh T.N, (vắng mặt).
4. Ông Hoàng Đình Biên, sinh năm 1973, địa chỉ: Xóm BV 1, xã BS, T phố SC, tỉnh T.N, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/6/2022, Hoàng Đình C, sinh năm 1994, trú tại xóm BV 1, xã BS, T phố SC, tỉnh T.N điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 20A-497.46 đi một mình trên đường TĐ, hướng đi từ T phố T.N đi T phố SC. Khi khi đi đến đoạn đường thuộc xóm Phú, xã TĐ, T phố T.N, đã đâm va vào xe mô tô nhãn hiệu HONDA WASE, biển kiểm soát 20B2-403.27 do anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố Đồi, phường Bách Quang, T phố SC, tỉnh T.N chở theo phía sau anh Nguyễn Việt H, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố An Châu 1, phường Mỏ Chè, T phố SC, tỉnh T.N, đi ngược chiều. Do xe mô tô của anh H1 sử dụng đèn pha cH1 vào mắt khó nhìn, nên C đạp chân phanh để giảm tốc độ nhưng đạp nhầm vào chân ga, dẫn tới xe ô tô của C bất ngờ tăng tốc lao vọt sang phần đường bên trái đâm va trực tiếp vào phần đầu xe phía trước bên trái xe mô tô của anh H1. Sau khi đâm va anh H ngồi phía sau xe mô tô bị hất văng lên đập đầu vào phần kính chắn gió phía trước xe ô tô của C, còn anh H1 bị kẹt lại tại xe mô tô của mình. Lúc này C vẫn giữ chân ga, nên xe ô tô của C tiếp tục lao thẳng về phía trước hất văng anh H xuống mặt đường và hất văng xe mô tô cùng anh H1 xuống rãnh thoát nước bên trái. Sau đó C đánh lái sang phải chạy thêm khoảng 20 mét rồi tự lao xuống rãnh thoát nước bên phải đường rồi dừng lại. C hô hào mọi người xung quanh đưa anh H1 và anh H đi cấp cứu, sau đó do lo sợ C đi bộ về nhà, còn người dân xung quanh có mặt đưa anh H1 và anh H đi Bệnh viện cấp cứu và báo Công an T phố T.N đến giải quyết theo quy định.
Hồi 10 giờ ngày 12/6/2022, C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N trình diện về hành vi xảy ra tai nạn giao thông nêu trên. Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và lấy mẫu máu xét nghiệm ma tuý đối với C, kết quả nồng độ cồn 0,00mg/L và âm tính với chất ma tuý.
Hậu quả anh Nguyễn Việt H và anh Nguyễn Văn H1 bị thương tích nặng, anh H phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương T.N điều trị từ ngày 12/6/2022 đến ngày 08/7/2022 thì ra viện. Anh H1 điều trị tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức từ ngày 12/6/2022 đến ngày 21/6/2022 thì ra viện, C bị thương tích nhẹ. Xe ô tô biển kiểm soát 20A-497.46 và xe mô tô biển kiểm soát 20B2-403.27 bị hư hỏng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người liên quan và khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, giao thông trên.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 553/TgT ngày 18/8/2022 của Trung tâm pháp Y tỉnh T.N, đối với thương tích của anh Nguyễn Văn H1, kết luận: Gãy xương đùi 2 bên, vỡ thân đốt sống cùng S1, S2, vỡ xương cùng, gãy gai ngang L2 (P), hiện tại có 02 sẹo phần mềm vùng mặt KT trung bình, 05 sẹo phần mềm vùng mặt KT nhỏ, 01 sẹo phần mềm vùng cổ KT nhỏ, 02 sẹo phần mềm KT lớn, 01 sẹo phần mềm KT trung bình và 04 sẹo phần mềm KT nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 62%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 609/TgT ngày 25/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T.N, đối với thương tích của anh Nguyễn Việt H, kết luận: Tụ máu dưới vùng màng cứng, xuất huyết dưới nhện, rộng khớp thái dương đỉnh (P), gãy 1/3 xương đùi (T), sẹo mở khí quản, hiện tại có 01 sẹo phần mềm vùng mặt KT trung bình, 02 sẹo phần mềm vùng KT trung bình và 04 sẹo phần mềm KT nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 48%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 610/TgT ngày 22/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T.N, đối với thương tích của C, kết luận: Hiện tại có 03 sẹo phần mềm KT nhỏ, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 3%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T phố T.N, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 20A-497.46 đã qua sử dụng là 27.750.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wase, biển kiểm soát 20B2-403.27 đã qua sử dụng là 3.080.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn: Nơi xảy ra vụ tai nạn là đường TĐ được trải nhựa phẳng, có bề rộng mặt đường là 4,90 m, nơi xảy ra tai nạn không có vạch kẻ đường, biển báo hiệu đường bộ, có lề phải và lề trái đều rộng 1,0 m và đều có rãnh thoát nước hai bên.
Lấy cột điện số 1.12 nằm bên phải đường TĐ theo hướng ngã ba Dốc Lim đi T phố SC làm điểm mốc và mép phải đường TĐ theo hướng ngã ba Dốc Lim đi T phố SC làm mép chuẩn.
- Ký hiệu 1 trên hiện trường là vết cày trên mặt đường, kích thước (0,07 x 0,01)m, dấu vết có chiều từ ngã ba Dốc Lim đi T phố SC. Đo từ điểm đầu và cuối của 1 đến mép chuẩn là 3,80 m và 3,80 m, đo từ điểm đầu của 1 trùng đến tâm vùng 2 là 2,12 m.
- Ký hiệu 2 trên hiện trường là vùng mảnh vỡ kích thước (1,0 x 1,05) m, có tâm của vùng 2 cách mép chuẩn là 3,85 m. Đo từ tâm của 2 đến điểm đầu của 3 là 6,20 m, đo từ tâm của 2 đến tâm của 4 là 8,75 m.
- Ký hiệu 3 trên hiện trường là vùng trượt vỡ bê tông kích thước (2,60 x 0,2) m, dấu vết có chiều từ ngã ba Dốc Lim đi T phố SC, đo từ điểm đầu và cuối của 3 đến mép chuẩn lần lượt là 5,10 m và 5,20 m.
- Ký hiệu 4 trên hiện trường là vùng máu kích thước (0,25 x 0,30) m trên đường. Đo từ tâm của 4 đến điểm đầu của 5 là 1,20 m.
- Ký hiệu 5 trên hiện trường là vết cầy trượt đứt đoạn kích thước (16,0 x 0,01) m có chiều từ ngã ba Dốc Lim đi T phố SC. Đo từ điểm đầu 5 đến mép chuẩn là 4,25 m. Điểm cuối của 5 trùng với để chân phía trước của 8. Đo từ điểm đầu của 5 đến tâm của 6 là 8,75 m.
- Ký hiệu 6 trên hiện trường là vùng mảnh vỡ kích thước (21,5 x 2,20) m rải rác trên mặt đường TĐ. Đo từ tâm của 6 đến tâm của 7 là 2,60 m. Đo từ tâm của 6 đến mép đường chuẩn là 3,90 m.
- Ký hiệu 7 trên hiện trường là vùng cây cỏ bị đổ kích thước (2,7x1,80) m. Đo từ tâm của 7 đến mép đường chuẩn là 7,40 m.
- Ký hiệu 8 trên hiện trường là xe mô tô BKS 20B2-403.27 đổ nghiêng phải nằm dưới rãnh thoát nước bên trái đường TĐ, đầu xe quay hướng T phố SC, đuôi xe quay hướng ngã ba Dốc Lim, có tâm bánh trước và tâm bánh sau cách mép chuẩn lần lượt là 7,30m và 7,0m. Đo từ tâm bánh sau của 8 đến tâm của 6 là 6,95 m. Đo từ tâm bánh trước của 8 đến tâm bánh sau bên trái của 9 là 19,30 m.
- Ký hiệu 9 trên hiện trường là xe ô tô BKS 20A-497.46 nằm dưới rãnh thoát nước bên phải đường TĐ, có tâm bánh trước và tâm bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn lần lượt là 2,55m và 2,20 m. Đầu xe quay hướng T phố SC, đuôi xe quay hướng ngã ba Dốc Lim. Đo từ tâm bánh sau bên phải của 9 đến cột điện số 1.12 là 4,10 m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn là 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 20A-497.46, trên xe có các dấu vết: Toàn bộ phần cản đà phía trước bị đứt rời các khớp nối, tách rời vị trí ban đầu. Biển số phía trước gắn với cản đà trước móp méo, biến dạng kim loại, gãy vỡ nhựa, bám dính vật chất màu đen, kích thước (34x18) cm. Mặt nạ phía trước tiếp giáp bên trái phần biển số của cản đà trước bị lõm bẹp nhựa, bong chóc sơn, bám dính vật chất màu đen một vùng kích thước (20x20) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau. Phần nhựa cản đà phía trước dưới biển số bị gãy rời, kích thước (66x15) cm. Góc phía dưới bên trái cản đà trước có một vùng nứt vỡ nhựa, bong chóc sơn, bám dính cát, đất, kích thước (20x4) cm. Toàn bộ mặt trước có dấu vết mài trượt nhựa bong chóc sơn. Nắp ca pô trước bẹp lõm kim loại, bong chóc sơn, biến dạng, kích thước (142x58) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau. Thanh chắn ngang ba đầu sốc trước, quạt gió tản nhiệt, thanh sắt si trước móp méo, biến dạng tất cả các dấu vết có chiều từ trước về sau. Toàn bộ kính chắn gió trước bị nứt vỡ, kích thước (136x88) cm, trong đó có một vùng bị rách bám dính vật chất màu nâu đỏ lẫn lông tóc, kích thước (30x25) cm, dấu vết có chiều từ trước về sau. Bánh lốp trước bên phải hết hơi, mặt ngoài la răng phía trước bên phải xước bên ngoài bám dính bùn đất kích thước (42x42) cm. Túi khí ghế lái và ghế phụ phía trước bung nổ. Phần nhựa bên trong tiếp giáp với kính chắn gió trước bung bật khỏi vị trí ban đầu cả 2 bên. Cốp nhựa bên trái của của mặt điều khiển bị bung bật khỏi vị trí ban đầu. Toàn bộ khoang lái và khoang phụ bên phải có nhiều mảnh kính vỡ lẫn lông tóc và dấu vết vật chất màu nâu đỏ.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Bánh lốp phía trước bên phải không còn hơi, 03 lốp còn lại còn hơi. Không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật do hệ thống điện và phần đầu xe bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn là 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS 20B2-403.27, trên xe có các dấu vết: Toàn bộ phần mặt nạ, cụm đèn cH1 sáng , đồng hồ công tơ mét , cánh yếm 2 bên, chắn bùn trước bị gãy, vỡ, bung rời khỏi xe. Khung kim loại tay nắm bên trái bị đẩy cong từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Săm, lốp trước bị rách cao su, bung bật ra khỏi vành trước. Vành xe, may ơ, toàn bộ lan hoa trục trước cong gãy, biến dạng, bị đẩy từ trước về sau. Cụm đèn cH1 sáng phía sau gãy, vỡ nhựa, kích thước (20x18) cm. Sườn xe bên trái có dấu vết rách nhựa kích thước (9x5) cm. Cần số trước bên trái bị đẩy cong gập từ trước về sau. Mặt ngoài để chân trước bên trái có dấu vết mài trượt nhựa, xước kim loại kích thước (3x2) cm. Đầu tay nắm bên trái bám dính bùn đất.
Kỹ thuật an toàn phương tiện: Toàn bộ hệ thống điện, càng xe bị hư hỏng nên không kiểm tra được, tình trạng kỹ thuật an toàn phương tiện.
Tại Kết luận giám định số 4213/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Mẫu vật chất màu nâu đỏ ghi thu trên bề mặt ghế lái xe ô tô BKS 20A-497.46 là máu người và là máu của Hoàng Đình C. Trên chiếc ốp vô lăng của xe ô tô BKS 20A-497.46 gửi giám định có bám dính tế bào người, không xác định được kiểu gen do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém, bị lẫn nhiều tế bào của nhiều người.
Tại bản kết luận giám định ADN số HT531.22/PY-XNSH ngày 04/11/2022 của Viện pháp y Quân đội Cục Quân y, kết luận: Mẫu lông, tóc bám dính trên kính chắn gió phía trước xe ô tô BKS 20A-497.46 gửi giám định ADN có nhiễm sắc thể thường với nồng độ rất thấp, không đủ điều kiện so sánh. Dấu vết trên 02 tay nắm cao su của xe mô tô BKS 20B2-403.27 gửi giám định ADN nhiễm sắc thể thường với nồng độ rất thấp, không đủ điều kiện so sánh với ADN của anh Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Việt H.
Căn cứ các tài liệu quá trình điều tra thu thập được, đã xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là do Hoàng Đình C điều khiển xe ô tô BKS 20A-497.46 tham gia giao thông không đi về bên phải, nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là do bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 20A-497.46 tham gia giao thông không đi về bên phải theo chiều đi nên phần đầu xe ô tô do C điều khiển đã đâm va trực tiếp với phần đầu xe phía trước bên trái của xe mô tô BKS 20B2-403.27 do anh Nguyễn Văn H1 điều khiển chở phía sau anh Nguyễn Việt H đang đi ngược chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn H1 và anh Nguyễn Việt H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể lần lượt là 62% và 48%, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của cả 02 người là 110%.
Thiệt hại về tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T phố T.N, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 20A-497.46, đã qua sử dụng là 27.750.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wase, BKS 20B2-403.27, đã qua sử dụng là 3.080.000 đồng.
Vật chứng và các tài liệu, đồ vật tạm giữ trong quá trình điều tra: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 20A-497.46, số khung RL4BT9231A9507273, số máy 1NZY033973, đã qua sử dụng, bị hư hỏng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 2001008 mang tên Hoàng Đình C; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 21BB 210869342 mang tên Hoàng Đình C; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 0416151 của xe ô tô BKS 20A-497.46; 01 ốp vô lăng bằng cao su của xe ô tô BKS 20A-497.46;
Ngày 17/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N đã trả lại chiếc xe ô tô trên cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe, Giấy chứng nhận bảo hiểm, Giấy chứng nhận kiểm định và chiếc ốp vô lăng cho anh Hoàng Đình C quản lý và sử dụng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wase, BKS 20B2-403.27, số khung RLHJA3922MY104268, số máy JA39E2130250, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe mô tô là anh Dương Quốc K, sinh năm 2001, trú tại tổ dân phố Tân Lập, phường Thắng Lợi, T phố SC, tỉnh T.N. Ngày 11/6/2022, anh K cho Nguyễn Việt H mượn chiếc xe trên sau đó anh H giao xe cho anh Nguyễn Văn H1 điều khiển. Ngày 17/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N đã trả lại chiếc xe cho anh Dương Quốc K quản lý và sử dụng. 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 010193398679 mang tên Hoàng Đình C. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự T phố T.N.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án không có ý kiến hay kH1 nại gì về việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N, Viện kiểm sát nhân dân T phố T.N.
Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Đình C đã bồi thường cho anh Nguyễn Việt H số tiền 140.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 110.000.000 đồng. Anh H và anh H1 chấp nhận mức bồi thường trên và không có yêu cầu, đề nghị gì. Anh Dương Quốc K không yêu cầu, đề nghị gì đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 20B2-403.27, phần dân sự đã giải quyết xong.
Bản cáo trạng số 626/CT-VKS-TPTN ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân T phố T.N truy tố bị cáo Hoàng Đình C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Đình C từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 010193398679 mang tên Hoàng Đình C.
6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T phố T.N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân T phố T.N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc kH1 nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm Hoàng Đình C đã khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 11/6/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 20A-497.46 có Giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đi từ nhà đến khu vực xóm Phú, xã TĐ, T phố T.N thì đâm va vào xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS 20B2-403.27 do anh Nguyễn Văn H1 điều khiển, phía sau chở anh Nguyễn Việt H. Hậu quả anh H bị thương tích với tỷ lệ 62%, anh H1 bị thương tích với tỷ lệ 48%, tổng cộng hai người là 110%, xác định về lỗi vi phạm giao thông do bị cáo đi lấn sang phần đường đi ngược chiều gây tai nạn giao thông. Sau khi gây tai nạn giao thông bị cáo đã hô hào mọi người xung quanh đưa anh H1 và anh H đi cấp cứu, đến khoảng 10 giờ ngày 12/6/2022 bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T phố T.N đầu thú.
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, cụ thể:
Điều 9 Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ…”
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân T phố T.N truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo T khẩn, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Sau khi gây tai nạn bị cáo đã đến Công an T phố T.N đầu thú, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, phạm tội với lỗi vô ý, sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả, T khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về án treo, xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Việt H số tiền 140.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Văn H1 số tiền 110.000.000 đồng. Anh H và anh H1 chấp nhận mức bồi thường trên và không có yêu cầu, đề nghị gì. Anh Dương Quốc K không yêu cầu, đề nghị gì đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 20B2-403.27. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Văn H1 là người điều khiển chiếc xe mô tô BKS 20B2-403.27 có dung tích xi lanh dưới 173 cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định và điều khiển xe trên đường mà có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililit máu. Công an T phố T.N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Nguyễn Văn H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Việt H là người giao xe mô tô BKS 20B2-403.27 cho Nguyễn Văn H1 điều khiển. Khi giao xe anh H không biết việc anh H1 không có giấy phép lái xe nhưng biết việc anh H1 có sử dụng rượu bia, tuy nhiên, nồng độ cồn không vượt quá mức quy định. Quá trình điều tra xác định hành vi của anh H không đủ yếu tố cấu T tội phạm “Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, nên Công an T phố T.N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh H là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số 010193398679 mang tên Hoàng Đình C, xét thấy cần trả lại cho bị cáo sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đình C 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Hoàng Đình C cho Uỷ ban nhân dân xã BS, T phố SC, tỉnh T.N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho bị cáo 01 ( một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 010193398679 mang tên Hoàng Đình C.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 193 ngày 08/ 12/2022 giữa Công an T phố T.N và Chi cục Thi hành án dân sự T phố T.N.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh T.N;
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh T.N
- VKSND TP. T.N;
- Công an TP. T.N;
- Chi cục THADS TP. T.N;
- Sở Tư pháp tỉnh T.N;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
Vương Hồng Giang Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh T.N;
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh T.N
- VKSND TP. T.N;
- Công an TP. T.N;
- Chi cục THADS TP. T.N;
- Sở Tư pháp tỉnh T.N;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
Vương Hồng Giang
T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vương Hồng Giang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T.N; - VKSND tỉnh T.N - VKSND TP. T.N; - Công an TP. T.N; - Chi cục THADS TP. T.N; - Sở Tư pháp tỉnh T.N; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vương Hồng Giang |