- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "N - T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N và Phạm Thị T: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; nơi cư trú cuối cùng: Tổ L 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2022/QĐST-DS | K, ngày 16 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Đặng Trình.
Thư ký phiên họp: Ông Phùng Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận K, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 266/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Bà Trần Thị N, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu P, phường H, quận D, thành
phố Hải Phòng; có mặt
- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1951; địa chỉ: Tổ L 3, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp bà Trần Thị N và Phạm Thị T trình bày: Chúng tôi là con dâu và con gái của vụ Phạm Văn Xin (đã chết năm 1980) và Ngô Thị Tuỳ (đã chết năm 1992), bố mẹ tôi có 04 người con gồm Phạm Thị Tòng, Phạm Thị T, Phạm Văn Toản (đã chết năm 1984) và Phạm Văn Quý (là liệt sỹ đã chết năm 1979).
Ông Phạm Văn Toản khi còn sống có vợ là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952, ông bà có con chung là Phạm Thị N, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Tổ Lệ Tảo 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Khi ông Phạm Văn Toản chết, đến năm 1986 thì bà Nguyễn Thị Đ dẫn theo con gái chị Phạm Thị N bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Gia đình tôi đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi thăm nhiều người nhưng không có kết quả.
Nay chúng tôi làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận K tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; nơi cư trú cuối cùng: Tổ L 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng mất tích.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Về việc việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 370, 387 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N và Phạm Thị T tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ mất tích. Khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bà Trần Thị N và Phạm Thị T được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng nhận định:
Về thẩm quyền: Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là bà Nguyễn Thị Đ; nơi cư trú cuối cùng: Tổ L 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K.
Về nội dung yêu cầu: Căn cứ vào tài liệu người yêu cầu cung cấp và các tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương, xác định bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952, nơi cư trú cuối cùng: Tổ Lệ Tảo 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng đã bỏ nhà đi từ năm 1986 đến nay không có liên lạc, tin tức gì. Sau khi thụ lý việc dân sự, Toà án nhân dân quận K đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm bà Nguyễn Thị Đ, thông báo trên được đăng trên Báo Công lý 03 số liên tiếp, Đài truyền hình Việt Nam, Cổng thông tin Toà án nhân dân, Cổng thông tin Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Nguyễn Thị Đ. Bà Trần Thị N và Phạm Thị T yêu cầu Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ mất tích là có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.
Về lệ phí: Bà Trần Thị N và Phạm Thị T được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149; các điều 361, 367, 370, 371, 372, 387; 388; 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35; Điều 36; khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N và Phạm Thị T: Tuyên bố bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; nơi cư trú cuối cùng: Tổ L 1, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hoàn trả cho bà Trần Thị N và Phạm Thị T mỗi người 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí việc dân sự đã nộp theo Biên lai thu số 0003617 và 0003618 ngày 19/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trần Thị N và Phạm Thị T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND quận K; - VKSND TP Hải Phòng; - TANDTP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận K; - UBND Ngọc Sơn, K; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN PHỌP Cao Đặng Trình |