- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà L yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà L.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 09/2020/QĐST-VDS | Long Xuyên, ngày 30 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
- Thư ký phiên họp: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên họp: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2020/TLST-VDS ngày 16 tháng 6 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2020/QĐST-VDS ngày 20 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà L, sinh năm 1966,
Cư trú: khóm D, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông C, sinh năm 1968. Vắng mặt
Nơi cư trú cuối cùng: khóm D, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên họp bà L trình bày:
Bà và ông C chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1987. Quá trình chung sống, bà và ông C có một người con chung tên T, sinh năm 1990. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã do bất đồng quan điểm. Đến năm 1996, ông C bỏ nhà đi đến nay không về, đi đâu làm gì gia đình không biết và cũng không có tin tức. Bà làm đơn gửi đến Văn phòng khóm D để được xác nhận việc ông C bỏ địa phương đi từ năm 1996 đến nay và được Văn phòng khóm D xác nhận việc này.
Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố giải quyết việc dân sự tuyên bố ông C mất tích để bà làm căn cứ giải quyết việc ly hôn với ông C.
Tại phiên họp hôm nay, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông C mất tích.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà L, tuyên bố ông C mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông C là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có địa chỉ cư trú cuối cùng tại thành phố X, tỉnh An Giang. Do đó, việc giải quyết yêu cầu của bà L đối với ông C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Ông C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự , Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt ông C.
Xét yêu cầu của bà L về việc tuyên bố ông C mất tích, nhận thấy:
Bà L và ông C chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1987, vợ chồng có một người con chung tên T, sinh năm 1990. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông C đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1996 đến nay không có tin tức.
Tại Đơn xin xác nhận ngày 15 tháng 10 năm 2019 do bà L cung cấp, Trưởng khóm D, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang xác nhận ông C không còn ở địa phương từ năm 1996 đến nay và tại Phiếu xác minh số 06/TALX ngày 16 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, Công an phường M, thành phố X, tỉnh An Giang xác nhận ông C hiện nay không có sinh sống ở địa phương.
Ngày 02 tháng 7 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ban hành Quyết định số 29/2020/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông C. Bà L đã thực hiện đầy đủ các biện pháp đăng báo và đăng tin trên các phương tiện thông tin theo quy định của pháp luật, nhưng cho đến nay cũng không có tin tức gì của ông C. Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông C mất tích là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét chấp nhận.
Về lệ phí Tòa án: Bà L phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 68 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà L.
Tuyên bố ông C, sinh năm 1968; Nơi cư trú cuối cùng: khóm D, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang mất tích từ năm 1996.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003148 ngày 16 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà L có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Ông C có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TP. Long Xuyên; - Chi cục THADS TP. Long Xuyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh Quốc Việt |