vanban.org

Quyết định 09/2020/QĐST-DS — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/07/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T; địa chỉ trụ sở: Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T; chức vụ chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2020/QĐST-DSQuận Ngô Quyền, ngày 27 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 17 tháng 7 năm 2020 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 31/2019/TLST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2020.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam T; địa chỉ trụ sở: Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang T; chức vụ chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 3563/2019/UQ-VPB ngày 07/5/2019).

- Bị đơn: Ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L; nơi cư trú: Phố C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Đào Bá T: Phố C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng (Giấy uỷ quyền 17 tháng 7 năm 2020).

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về số tiền nợ:

Tính đến ngày 17/7/2020, ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 227.819.794 (hai trăm hai mươi bảy triệu tám trăm mười chín nghìn bảy trăm chín mươi bốn) đồng; trong đó nợ gốc 164.594.040 đồng, nợ lãi 63.225.754 đồng theo Giấy đăng ký vay tiêu dung cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010129/201611/45 ngày 15/11/2016 và Hợp đồng tín dụng số 10414388 ngày 28/11/2016.

2.2. Về phương thức và thời hạn thanh toán: Ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán tiền nợ gốc và lợi lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, cụ thể:

- Chậm nhất đến hết ngày 31/7/2010, ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L phải thanh toán toàn bộ số tiền 227.819.794 đồng (hai trăm hai mươi bảy triệu tám trăm mười chín nghìn bảy trăm chín mươi bốn) đồng, trong đó nợ gốc 164.594.040 đồng, nợ lãi 63.225.754 đồng.

2.3. Kể từ sau ngày 17/7/2020, ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2.4. Trường hợp, ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cụ thể:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 903, tờ bản đồ số GV-06, diện tích 47,9m2 tại địa chỉ: Số 1A/17/117 (số cũ 13/91) phố Cấm, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH252053, số vào sổ cấp GCN: CH07107 do Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 29/6/2012 cho ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L.

2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Đào Bá T và bà Nguyễn Thị Kim L nhận nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.695.495 (năm triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm chín lăm) đồng.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm là 5.340.000 (năm triệu ba trăm bốn mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006390 ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ