- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - Bị truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 108/QĐ-VC2 ngày 20-9-2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 09/2019/HS-GĐT Ngày 27 tháng 02 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tiến.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trần Minh Tuấn và Ông Đặng Kim Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hằng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: thôn C1, xã B2, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: tổ dân phố 6, thị trấn C, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: kinh; con ông Nguyễn Văn D và con bà Huỳnh Thị A; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/9/2016; được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh ngày 06/01/2017 hiện đang tại ngoại.
(Trong vụ án này còn có Đỗ Minh D1 bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”).
* Người bị hại:
- Ông Lương N, sinh năm 1969 và anh Lương Quang N1, sinh năm 1997 (là cha, con); trú tại: thôn N2, xã B, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1965; trú tại: thôn N2, xã B, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
- Vợ chồng ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị A, sinh năm 1969; anh Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1992; bà Phạm Thị L2, sinh năm 1969 và anh Tạ Đình H, sinh năm 1995. Trú tại: tổ dân phố 6, thị trấn C, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
- Anh Huỳnh Thế Y, sinh năm 1991; trú tại: thôn P1, xã B2, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1971; trú tại: thôn Châu Tử, xã B2, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Tạ Đình T1 sinh năm 1952; trú tại: tổ dân phố 1, thị trấn C, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Văn D có trang trại và rẫy keo tại thôn N2, xã B, huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi và nằm gần với rẫy keo của ông Lương N. Ngày 20-9-2016, rẫy keo của ông Lương N bị cháy, nên ông N nghi ngờ do ông D đốt rẫy làm cháy rẫy keo, dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Đến tối cùng ngày, ông D kể lại sự việc cho 02 người con ruột của mình là Nguyễn Ngọc L (sinh năm 1994) và Nguyễn Ngọc L1 (sinh năm 1992), đồng thời bảo L và L1 rủ thêm bạn lên trang trại chơi rồi dằn mặt cha, con ông N.
Sáng ngày 21-9-2016, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 rủ Đỗ Minh D1, Tạ Đình H (trú tại: tổ dân phố 6, thi trấn C, huyện B1) và Huỳnh Thế Y (trú tại: thôn P1, xã B2, huyện B1) lên trang trại của ông D chơi và dằn mặt cha, con ông N, thì D1, H và Y đồng ý. Sau đó cả bọn mua rượu, mồi đến trang trại nhậu cùng ông D.
Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, ông D và L1 đi tìm bò thả ở trang trại (bò thả rông). Do tìm bò không thấy, L1 quay lại trang trại nhậu, còn ông D thì tiếp tục đi tìm. Khi đi ngang qua nhà ông N, thấy ông N và con trai là Lương Quang N1 đang ở nhà, ông D đã điện thoại cho L1 nói “Con qua nhà ông N với ba”. Lúc này, L1 đang nhậu, nên nói lại với cả nhóm là “Thôi đi qua nhà ông N bây”, thì tất cả đồng ý. Khi đi, L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76P6-6156 chở D1 đi trước, còn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-7083 chở H và Y đi sau. Trước khi đi, L vào nhà (trang trại) lấy 01 con dao Thái Lan của gia đình mang theo.
Lúc này, ông Lương N và anh Lương Quang N1 vừa đi làm về, nên ngồi ngoài sân nghỉ ngơi, trên tay mỗi người cầm một con rựa. Thấy ông D đi bộ vào, ông N hỏi “Đi đâu”, ông D nói “Qua nói chuyện”. Ông N và anh N1 đi vòng ra sau mở cửa vào nhà. Cùng lúc, L1 đến và cùng ông D bước vào nhà, thì bị anh N1 cầm rựa trên tay chém ông D, ông D tránh qua phía bên phải, thì thấy ông N đang cầm rựa trên tay đứng gần đó. Sợ ông N chém mình, ông D ôm, giằng co với ông N đi về hướng cửa ra ngoài sân để giật lấy rựa, còn L1 giằng co với anh N1. Khi L đến, thấy hai bên đang giằng co, thì L chạy vào dùng dao Thái Lan đâm một nhát vào vùng bụng của ông N. Sau đó, L quay qua chỗ L1 đang giằng co với anh N1, dùng dao Thái Lan đâm từ phía sau, trúng lưng anh N1. Anh N1 bỏ chạy ra sân, thì bị D1 dùng cây đánh vào lưng, làm anh N1 ngã nằm dưới sân. L chạy đến, giật đoạn cây trên tay D1 đánh liên tiếp vào người anh N1, làm đoạn cây văng ra ngoài. L tiếp tục nhặt một cây khác, đánh nhiều cái vào người ông N nằm gần đó, thì được L1 và ông D can ngăn. Sau đó, tất cả bỏ về, còn ông N và anh N1 bị thương tích, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 141/2016/GĐPY ngày 22-9-2016, Phòng Giám định pháp y thuộc Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi kết luận thương tích của ông Lương N: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 66%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 140/2016/GĐPY ngày 22-9-2016, Phòng Giám định pháp y thuộc Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi kết luận thương tích của anh Lương Quang N1: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%.
Tại Kết luận điều tra số 35/CSĐT ngày 28-4-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự; Đỗ Minh D1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.
Tại Cáo trạng số 21/QĐ-VKS ngày 25-5-2017, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự; Đỗ Minh D1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.
Tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 09/2017/HSST-QĐ ngày 10-8-2017, Tòa án nhân dân huyện B1, trả hồ sơ vụ án hình sự đối với Nguyễn Ngọc L và Đỗ Minh D1, để điều tra bổ sung các vấn đề sau:
+ Mâu thuẫn trong lời khai của ông Lương N, anh Lương Quang N1, ông Nguyễn Văn D và anh Nguyễn Ngọc L1 về người tấn công trước. Anh N1 có cầm rựa chặt ông D không? ông D dùng cục đá đánh vào đầu ông N và có xô xát với anh N1 không? làm rõ ông D và anh L1 có đồng phạm với L không?.
+ Xác định vị trí ông Lương N nằm bất tỉnh, tư thế L dùng dao gây thương tích cho ông Lương N?.
+ Làm rõ có hay không hành vi ông N chém L? thương tích như thế nào, điều trị và yêu cầu của L đối với thương tích này?.
+ Làm rõ Tạ Đình H và Huỳnh Thế Y có tham gia xô xát, giằng co gây thương tích cho ông N và anh N1 không? làm rõ H và Y có đồng phạm với vai trò giúp sức không?.
Tại Kết luận điều tra bổ sung số 61/CSĐT ngày 27-9-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên Kết luận điều tra số 35/CSĐT ngày 28-4-2017, đề nghị truy tố Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự; Đỗ Minh D1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2017/HSST ngày 29-11-2017, Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Áp dụng khoản 3 (điểm a, i khoản 1) Điều 104, điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53 và Điều 33 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc L 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24-9-2016 đến ngày 06-01-2017.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 104, điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 và Điều 60 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh D1 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29-11-2017).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 108/QĐ-VC2 ngày 20-9-2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyễn Ngọc L đều khai nhận hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: ngày 21-9-2016, Nguyễn Ngọc L đã dùng dao nhọn (loại dao Thái Lan) gây thương tích cho ông Lương N và anh Lương Quang N1.
. Đối với hành vi dùng dao đâm ông Lương N: L chuẩn bị dao từ nhà, khi sang nhà ông N thấy cha mình và ông N đang giằng co thì ngay lập tức L đã dùng dao Thái Lan đâm một cái vào bụng ông Lương N gây thủng gan hạ phân thùy V phải, thủng cơ hoành 02 lỗ, thủng tâm nhất phải, thủng phổi phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 66%. Sau khi ông N đã nằm bất tỉnh ở sân, L vẫn tiếp tục dùng cây gậy đánh nhiều nhát vào người ông N cho đến khi Nguyễn Ngọc L1 và Nguyễn Văn D can ngăn thì L mới dừng lại, việc ông N không chết là ngoài ý muốn của L. Như vậy có đủ cơ sở xác định hành vi của L đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi truy tố, xét xử Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng với tính chất, hành vi phạm tội của L.
. Đối với hành vi gây thương tích cho anh Lương Quang N1: Nguyễn Ngọc L đã có hành vi dùng dao đâm từ phía sau trúng lưng anh N1 gây tổn thương cơ thể là 2% nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử L về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng tội danh mà L đã thực hiện. Tuy nhiên, do hành vi dùng dao đâm ông N của L đã phạm vào tội “Giết người” nên khi điều tra, truy tố, xét xử lại các cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định lại khung, khoản của điều luật để áp dụng đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của Nguyễn Ngọc L.
. Đối với Đỗ Minh D1: D1 được Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Ngọc L1 rủ sang nhà ông Lương N. D1 không có sự bàn bạc, thống nhất với L. Khi đến nhà ông N, D1 có hành vi dùng cây đánh vào lưng anh Lương Quang N1 nên D1 là đồng phạm giúp sức của L đối với thương tích của anh N1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử D1 về tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt D1 mức án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
. Nguyễn Văn D là người khởi xướng, yêu cầu Nguyễn Ngọc L1 và Nguyễn Ngọc L rủ thêm bạn của mình lên rẫy keo để “dằn mặt” cha con ông Lương N. Nguyễn Văn D cũng là người trực tiếp gọi các con là L1, L sang nhà ông N để “nói chuyện”. Khi sang nhà ông N, thấy ông N đang cầm rựa trên tay đứng gần đó, nên D ôm, giằng co với ông N đi về hướng cửa ra ngoài sân để giật lấy cái rựa. Còn Nguyễn Ngọc L1 thì giằng co với anh Lương Quang N1. Khi Nguyễn Ngọc L vừa đến, thấy xô xát trong nhà nên chạy vào dùng dao Thái Lan đâm vào vùng bụng ông N, sau đó quay sang đâm trúng lưng anh Lương Quang N1. Hơn nữa, sau khi L gây thương tích cho ông N và anh N1, tất cả bỏ về, bỏ mặc cha con ông N bị thương tích nằm đó mà không đưa nạn nhân đi cấp cứu. Do đó chưa có cơ sở xác định vai trò đồng phạm giúp sức của Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc L1 đối với hành vi của Nguyễn Ngọc L, cần phải điều tra, làm rõ dấu hiệu đồng phạm. Vì vậy, cần chấp kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 3 Điều 388; Điều 391 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 108/QĐ-VC2 ngày 20-9-2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2017/HSST ngày 29-11-2017 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Quảng Ngãi về phần tội danh, hình phạt đối với Nguyễn Ngọc L để điều tra lại.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung.
Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - TAND huyện B1; - VKSND huyện B1; - Chi cục THADS huyện B1; - Bị cáo, người tham gia TT (theo địa chỉ); - Lưu các Phòng: GĐKT I; HCTP; VTLT. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Anh Tiến |