vanban.org

Quyết định 09/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lâm Thị Nguyên D.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1982 là ngƣời mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lâm Thị Nguyên D chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019446 ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà Lâm Thị Nguyên D yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Thúy A mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lâm Thị Nguyên D.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 09/2018/QĐDS- ST
Ngày 20-7-2018
V/v: Tuyên bố một ngƣời mất
năng lực hành vi dân sự

dadanndâđddân” dân sự”.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH D ƠNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Liễng - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, t nh Bình Dư ng: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 157/2018/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2018, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một ngƣời mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp số: 08/2018/QĐPH-ST ngày 10 tháng 7 năm 2018.

- Người yêu cầu: Bà Lâm Thị Nguyên D, sinh năm 1956; thƣờng trú: Số 19/7, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1984; thƣờng trú: 19/7, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thanh Ngọc N, sinh năm 1997; thƣờng trú: 19/7, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Lâm Thị Nguyên D yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Thúy A mất năng lực hành vi dân sự để làm hồ sơ phân chia di sản thừa kế.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Bản tự khai và các chứng cứ do ngƣời yêu cầu cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật, kết quả giám định pháp y tâm thần kết luận chị Nguyễn Thị Thúy A không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Nhƣ vậy, có đủ căn cứ để xác định chị Nguyễn Thị Thúy A bị mất năng lực hành vi dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đƣơng sự.

NH N ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đƣợc thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:

[1] Về yêu cầu: Bà Lâm Thị Nguyên D, sinh năm 1956; thƣờng trú: 19/7, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, nộp đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1982; thƣờng trú: 19/7, khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng bị mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một ngƣời mất năng lực hành vi dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Ngƣời yêu cầu và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án mở phiên họp vắng mặt các đƣơng sự trên.

[3] Về nội việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy A là con ruột của bà Lâm Thị Nguyên D và ông Nguyễn Văn T. Ngày 25/12/2017, ông Nguyễn Văn T chết. Từ khi chị An 01 tuổi đã bị bệnh viêm não do sốt bại liệt, mọi sinh hoạt cá nhân đều do bà Nguyễn Thị Nguyên D chăm sóc.

[4] Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của đƣơng sự kết hợp với chứng cứ là Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 321/KL-VPYTW ngày 03/7/2018, của Viện Pháp Y Tâm Thần Trung Ƣơng Biên Hòa kết luận:

- Về y học: Đƣơng sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng (F73-ICD.10)/Di chứng sốt bại liệt.

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đƣơng sự không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

- Nhƣ vậy, có đủ cơ sở để xác định chị Nguyễn Thị Thúy A là ngƣời bị mất năng lực hành vi dân sự.

Vì vậy, yêu cầu của bà Lâm Thị Nguyên D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

5. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lâm Thị Nguyên D phải chịu theo

quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí lệ phí, Tòa án.

Từ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 27 và các Điều 371, Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 37, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lâm Thị Nguyên D.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1982 là ngƣời mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lâm Thị Nguyên D chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019446 ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ngƣời yêu cầu và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định này có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc quyết định hoặc quyết định đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ