vanban.org

Quyết định 09/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 24/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trần Chí T. Tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014.

Về lệ phí: Anh Trần Chí T phải chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002286 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, anh T đã nộp đủ lệ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Viec dan su"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trần Chí T. Tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/2018/QĐDS-ST
Ngày 24/9/2018
V/v: Tuyên bố một người mất
tích.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Đức Công - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Ông Đặng Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 55/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2018, về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp số: 38/2018/QĐPH-ST ngày 10 tháng 9 năm 2018:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Trần Chí T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Xóm 3, Thôn 5, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

(Có mặt).

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Trần Chí T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L, sinh năm 1986; nơi cư trú cuối cùng trước tháng 05/2014: Xóm 3, Thôn 5, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng mất tích theo qui định của pháp luật, với lý do, mục đích để làm thủ tục ly hôn và tạo sự ổn định cho cuộc sống của bản thân.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Người yêu cầu anh Trần Chí T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định yêu cầu: “Tuyên bố một người mất tích”.

Người bị yêu cầu là chị Hứa Thị Kiều L có nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm 3, Thôn 5, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Về pháp luật nội dung: Anh Trần Chí T yêu cầu chị Hứa Thị Kiều L mất tích có nội dung và hình thức phù hợp với Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết việc dân sự.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp: Căn cứ Điều 370, 387 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh T, tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích theo qui định của pháp luật.

Xét yêu cầu của người yêu cầu việc dân sự anh Trần Chí T như sau:

Anh Trần Chí T và chị Hứa Thị Kiều L kết hôn vào ngày 08/8/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn thì vợ chồng anh T, chị L về chung sống với nhau tại địa chỉ: Xóm 3, Thôn 5, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng cho đến nay. Vợ chồng có 01 con chung, có họ tên là Trần Hứa Bảo K, sinh ngày 19/4/2008, hiện tại cháu K đang ở với anh T. Đến tháng 05/2014 chị L đã tự ý bỏ gia đình và bỏ địa phương đi biệt tích không để lại tin tức, địa chỉ.

Anh T đã chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm đối với chị Hứa Thị Kiều L theo qui định tại Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự như đăng trên báo hàng ngày của trung ương (báo Pháp luật Việt Nam) trong ba số liên tiếp vào các ngày 22, 23 và ngày 24/12/2017; phát sóng trên Đài phát thanh của trung ương (Đài tiếng nói Việt Nam) ba lần trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 21, 22 và ngày 23/12/2017 và bằng các hình thức tìm kiếm khác nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị L là còn sống hay đã chết.

Căn cứ kết quả xác minh tại Công an xã Đ, thành phố Bảo Lộc là nơi cư trú cuối cùng của chị Hứa Thị Kiều L, xác định: Chị Hứa Thị Kiều L, sinh năm 1986 có đăng ký hộ khẩu (sổ hộ khẩu số 395100946) và thường trú tại địa chỉ: Thôn 5, xã Đ, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Chị L đã bỏ nhà, địa phương đi biệt tích từ tháng 05/2014 cho đến nay, hiện tại không có mặt tại địa phương...Như vậy, có cơ sở xác định chị L vắng mặt tại địa phương từ tháng 05/2014 đến nay, không có tin tức xác thực về việc chị L còn sống hay đã chết.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/2018/QĐST-VDS ngày 04/5/2018 để thông báo tìm kiếm chị Hứa Thị Kiều L. Căn cứ quyết định này, anh Trần Chí T đã liên hệ với cơ quan báo chí và Đài phát thanh để đăng thông báo tìm kiếm đối với chị Hứa Thị Kiều L. Nội dung thông báo đã được đăng trên báo hàng ngày của trung ương (báo Pháp luật Việt Nam) trong ba số liên tiếp vào các ngày 09, 10 và ngày 11/5/2018; phát sóng trên Đài phát thanh của trung ương (Đài tiếng nói Việt Nam) ba lần trong ba ngày liên tiếp vào các ngày 05, 06 và ngày 07/5/2018; Cổng thông tin điện tử của Tòa án và của UBND tỉnh Lâm Đồng, nhưng từ đó cho đến nay đã hơn 04 tháng mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chị L là còn sống hay đã chết.

Điều 68. Tuyên bố mất tích của Bộ luật dân sự năm 2015 qui định: “....Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”...

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Anh Trần Chí T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.

Về lệ phí: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Trần Chí T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trần Chí T. Tuyên bố chị Hứa Thị Kiều L mất tích kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014.

2. Về lệ phí: Anh Trần Chí T phải chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002286 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, anh T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp vắng mặt thì thời hạn tính từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ