- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật xử lý hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:09/2018/QĐ-TA. | Buôn Đôn, ngày 28 tháng 11 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Định Tình
Thư ký ghi biên bản cuộc họp: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 10/2018/QĐ-TA ngày14/11/2018 và Quyết định hoãn phiên họp số: 01/2018/QĐST-HPH ngày 23/11/2018, đối với:
Họ và tên: Y Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/04/1996, tại tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Làm nông
Thường trú tại: Buôn E M, xã EN, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Con ông Y H (đã chết) và con bà H’L – sinh năm 1965.
Người bị đề nghị Y Đ có mặt tại phiên họp
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Buôn Đôn.
Người đại diện: Ông Y S – Chức vụ: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Buôn Đôn.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Trong năm 2018, Công an xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn phát hiện Y Đ có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm. Công an xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Y Đ. Ngày 18/7/2018, UBND xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn ban hành Quyết định số 152a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng đối với Y Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Sau khi chấp hành biện pháp giáo dục tại địa phương, đến ngày 26/10/2018, Y Đ tiếp tục sử dụng chất ma túy đá bằng hình thức hút. Cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Buôn Đôn đã lập biên bản hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Y Đ đến bệnh viện Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm ngày 26/10/2018 cho thấy Y Đ vẫn nghiện ma túy và dương tính với Heroin.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn đề nghị: Y Đ có nơi cư trú ổn định tại Buôn EM, xã EN, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, là đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét nhân thân của Y Đ, bị chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Ea Nuôl huyện Buôn Đôn ra Quyết định số 152a/QĐ-UBND, ngày 18/7/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 18/7/2018 đến ngày 18/10/2018, sau khi chấp hành quyết định giáo dục tại địa phương cho đến ngày 26/10/2018 thì lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Sau khi bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Y Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Đ với thời hạn là 18 tháng đến 24 tháng.
Tại phiên họp người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Y Đ trình bày: Do bạn bè rủ rê nên từ cuối năm 2014 đã hút chất ma túy và thừa nhận sau khi chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã phường vẫn còn sử dụng trái phép chất ma túy, hiện nay đã chuyển sang chích ma túy. Bản thân nghiện ma túy nặng nên quyết tâm xin cai nghiện . Ngày 28/11/2018, Y Đ làm đơn đề nghị Tòa án cho áp dụng thời gian thời gian dài nhất là 02 năm mới có thể cai nghiện hoàn toàn. Tại phiên họp hôm nay bản thân hứa sẽ phấn đấu chấp hành tốt việc cai nghiện để sớm hòa nhập cộng đồng để trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn khẳng định: Quá trình chuẩn bị và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đề nghị chấp nhận yêu cầu đề nghị của đại diện cơ quan Phòng Lao động – Thương binh xã hội huyện Buôn Đôn.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Do nghiện ma túy từ đầu năm 2014 và sử dụng ma túy với hình thức hút, nên ngày 26/10/2018, Y Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện, Công an huyện Buôn Đôn đã mời Y Đ đến trụ sở để tiến hành lập biên bản, tại bản tự khai Y Đ đã thừa nhận về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Công an huyện Buôn Đôn tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Đ theo thẩm quyền. Đồng thời, thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho người bị đề nghị và gia đình người bị đề nghị. Chuyển hồ sơ đề nghị cho phòng Tư pháp huyện Buôn Đôn kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, phòng Tư pháp đã có văn bản xác nhận pháp lý của hồ sơ đề nghị. Do đó, phòng Lao động thương binh và xã hội có văn bản đề nghị Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị đối với Y Đ đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 17 Nghị định số 81/2013/NĐ - CP, ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 Nghị định số 221/2013/NĐ - CP, ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập và lời trình bày của người bị đề nghị có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định: Y Đ có nơi cư trú ổn định tại Buôn EM, xã EN, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã xác định Y Đ có nơi cư trú ổn định. Do đó, Y Đ thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất mức độ hành vi của Y Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy. Xét nhân thân, bị chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Ea Nuôl huyện Buôn Đôn ra Quyết định số 152a/QĐ-UBND, ngày 18/7/2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 18/7/2018 đến ngày 18/10/2018, khi chấp sau hành quyết định giáo dục tại địa phương cho đến ngày 03/07/2018 thì lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Y Đ và gia đình có nguyện vọng xin cai nghiện thời gian 24 tháng mới đủ thời gian cai nghiện hoàn toàn là có căn cú nên cần chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Đ là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý hành chính; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Y Đ – Sinh ngày 01/4/1996; tại tỉnh Đắk Lắk.
Thường trú tại: Buôn EM, xã ENu, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông Y H (đã chết) và con bà H’L
2. Thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Buôn Đôn có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết đinh này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện Buôn Đôn có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Viện kiểm sát huyện Buôn Đôn; - Công an huyện Buôn Đôn; - Phòng Lao động -TBXH - Cơ sở Điều trị, cai nghiện - UBND xã Ea Nuôl, - Y Đ; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Huỳnh Định Tình |