vanban.org

Quyết định 08/QĐ-TA

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 17/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1.

Nơi cai nghiện: Cơ cở Cai nghiện ma túy vàTrợ giúp xã hội tỉnh P(địa chỉ: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên). Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là12 (mười hai) tháng, kểtừ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Nguyễn Đức T1"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/QĐ-TAT, ngày 17 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiệnbắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Diễm Anh T.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Phụng Kiều.

Ngày 17tháng 11năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 10tháng 11năm 2022, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đức T1; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: không.

Sinh ngày 17 tháng 5năm 1999;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12;

Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chỗở: Không cónơi cư trúổn định;

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án: Không

Tiền sự:Không

Con ông: Nguyễn Đức K; con bà: Đào Thị D.

Có yêu cầu xin vắng mặttại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Chí H– Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố T, tỉnh Phú Yên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên: Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu trong hồ sơ, hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, Công an phường I, thành phố Tphát hiện Nguyễn Đức T1, sinh năm 1999, HKTT: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý tại khu phố N, phường I, thành phố T nên tiến hành đưa T1về trụ sở Công an phường I để làm việc. Công an phường I tiến hành thử nước tiểu bằng que thử ma tuý nhanh, kết quả dương tính với ma túy, loại MOP (H). Qua làm việc, đối tượng Nguyễn Đức T1 thừa nhận vào ngày 10/10/2022 đã sử dụng ma túy tại khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yênvà đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy trước đây.

Lúc 11 giờ 00 phút, ngày 10/10/2022 Công an phường I, thành phố Tđã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức T1 vì đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 10/10/2022 tại khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Ngày 10/10/2022, Công an phường I, thành phố Tcó văn bản đề nghị Trạm y tế phường I xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Đức T1.

Tại Phiếu trả lời kết quả ngày 10/10/2022 v/v xác định tình trạng nghiện ma túy củaTrạm y tế phường I, thành phố T xác địnhNguyễn Đức T1 có nghiện ma túy,tên loại ma túy sử dụng là H1.

Tại Biên bản xác minh ngày 13/10/2022,Công an xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang xác định Nguyễn Đức T1, sinh năm 1999, có đăng ký HKTT tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giangnhưng không có mặt tại địa phương,hiện ông T1ở đâu địa phương không biết rõ.

Ngày 10/10/2022,Nguyễn Đức T1có đơn đăng ký cai nghiện ma tuý tựnguyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường I,thành phố T ra Quyết định số 80/QĐ-UBND về việc cai nghiện ma tuýtự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Nguyễn Đức T1, giao cho Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên và gia đình ông Nguyễn Đức T1 phối hợp hỗ trợ, quản lý ông Nguyễn Đức T1thực hiện cai nghiện ma tuý tự nguyện theo đăng ký.

Ngày 18/10/2022, Công an phường I, thành phố Txác minh tại Cơ cởCai nghiện ma túy vàTrợ giúp xã hội tỉnh P thì không tiếp nhận trường hợp Nguyễn Đức T1 đến chấp hành cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nên tiến hành lập biên bản vi phạm. Cùng ngày, Nguyễn Đức T1có đơn xin cai nghiện bắt buộc.

Ngày 18/10/2022, Ủy ban nhân dân phường I có Quyết định số 92/QĐ-QLNN vềviệc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập biên bản giao nhận hồ sơ, người bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1tại Cơ sở Cai nghiện ma túy vàTrợ giúp xã hội tỉnh P

Ngày 26/10/2022, Ủy ban nhân dân phường I có thông báo số54/TB-UBNDvề việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớiNguyễn Đức T1.

Ngày 31/10/2022, Ủy ban nhân dân phường I có thông báo số 02/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớiNguyễn Đức T1. Ngày 02/11/2022, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T ra Văn bản số 106/ĐN-CNBB đề nghịTòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T trình bày:Nguyễn Đức T1 làngười nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1, thời gian cai nghiện là 12 tháng, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.

- Tại phiên họp Nguyễn Đức T1 xin vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1 là đúng trình tự, thủtục theo quy định pháp luật.Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đãđược thẩm tra đầy đủ, đúng quy định theo hướng dẫn tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020), Điều 40, 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP.Do đó đề nghị Tòa án nhân dân thành phốTuy Hòa áp dụng Điều 95,Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính(sửa đổi bổ sung năm 2020), khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý, chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1 thời hạn từ12tháng đến 18 tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/10/2022); địa điểm cai nghiện: Cơ sở Cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớiNguyễn Đức T1được lập đảm bảo về thời hiệu, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, 96, Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý. Do đó, hồ sơ đề nghị đảm bảo tính hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốTuy Hòa, đủ cơ sở xác định:Nguyễn Đức T1, sinh ngày 17/5/1999 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Gianglà người nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trúổn định.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy củaNguyễn Đức T1là vi phạm pháp luật, không chỉảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, mà còn lànguyên nhân làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây tác động tiêu cực đến công tác đấu tranh chống tệ nạn ma túy nói chung và trên địa bàn thành phố Tnói riêng.Nguyễn Đức T1là người nghiện ma túy trên 18 tuổi nhưng không có nghề nghiệp và hiện không có nơi cư trúổn định nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1là cần thiết. Việc này không chỉ tạo điều kiện choT1sớm được điều trị từbỏ ma túy mà cũng góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng nhưphòng ngừa tội phạm trong cộng đồng.Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tđưa Nguyễn Đức T1vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ nên chấp nhận.

Quá trình làm việc, Nguyễn Đức T1đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 điều 96, Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

Áp dụngkhoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý năm 2021;

Căn cứcác Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021của Chính phủquy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma tuý, Luật xửlý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Căn cứ Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T1.

Nơi cai nghiện: Cơ cở Cai nghiện ma túy vàTrợ giúp xã hội tỉnh P(địa chỉ: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là12 (mười hai) tháng, kểtừ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 18/10/2022).

3. Nguyễn Đức T1có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tcó quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố T, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Tcó trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ