- Tranh chấp gì? "Quyết định ADBPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Bùi Thanh N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/QĐ-TA | Krông Búk, ngày 17 tháng 6 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Vân.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến.
Ngày 17 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/2019/QĐ-TA ngày 07/6/2019, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Bùi Thanh N; giới tính: Nam; Sinh năm 1984, tại tỉnh Quảng Ngãi; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn T2, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; con ông: Bùi Thanh X (đã chết), con bà Nguyễn Thị D.
Tiền án: 02 tiền án; Tiền sự: Ngày 03/10/2018 bị Ủy ban nhân dân xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 248/QĐ-UBND, đã chấp hành xong theo giấy chứng nhận số 02/GCN-UBND ngày 03/01/2019.
Người bị đề nghị: Bùi Thanh N – Vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Kim B – Chức vụ: Chuyên viên – Là đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk (theo giấy ủy quyền số 05/GUQ-LĐTBXH ngày 27/5/2019 của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk) - Có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk: Ông Lê Quý T - Kiểm sát viên: Có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 25/4/2019, người bị đề nghị Bùi Thanh N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Phiếu trả kết quả xét nghiệm và Phiếu trả lời kết quả cùng ngày 25/4/2019 của Bệnh viện đa khoa thị xã B về việc xác định người nghiện ma túy, đã kết luận: Test Morphine có kết quả: Dương tính; xác định Bùi Thanh N có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Morphine.
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Người bị đề nghị đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo quyết định số 248/QĐ-UBND ngày 03/10/2018, thời gian áp dụng là 03 tháng, đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã theo giấy chứng nhận số 02/GCN-UBND ngày 03/01/2019 của Ủy ban nhân dân xã P nhưng vẫn còn nghiện và tiếp tục sử dụng chất ma túy vào ngày 25/4/2019 nên thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng đối với người bị đề nghị Bùi Thanh N.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K
Krông Búk
vào C
người bị đề nghị là
, hồ sơ đầy đủ, đúng
nên đề nghị Tòa án chấp nhận. Về thời hạn cai nghiện bắt buộc đề nghị áp dụng từ 20 tháng đến 24 tháng.
Tại bản tường trình, biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy,biên bản lấy lời khai, người bị đề nghị Bùi Thanh N trình bày: Bản thân là người nghiện chất ma túy từ năm 2010, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn còn nghiện, lần gần nhất có sử dụng chất ma túy là ngày 25/4/2019, bị phát hiện và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
XÉT THẤY:
Người bị đề nghị Bùi Thanh N thừa nhận đã nghiện ma túy từ năm 2010, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong nhưng vẫn còn nghiện và tái sử dụng chất ma túy, ngày 25/4/2019 là lần gần nhất có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị phát hiện, lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính
sử dụng trái phép chất ma túy
Bùi Thanh N
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; bản thân Bùi Thanh N đã thành t dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Thanh N với thời hạn 20 tháng để đảm bảo việc chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 105, Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 30, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
C người bị đề nghị Bùi Thanh N.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng (Hai mươi tháng), kể từ ngày người bị đề nghị Bùi Thanh N được giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4.
5. Cơ quan
ng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K
đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng LĐTB & XH huyện K; - VKSND huyện K; - CA huyện K; - Công an xã P; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Hoàng Văn Vân |