- Tranh chấp gì? "ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CAI NGHIỆN BẮT BUỘC ĐỐI VỚI VÕ VĂN S"
- Tòa quyết gì? [1].Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn S (A), sinh năm 1990; HKTT và chỗ ở hiện nay: ấp Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/QĐ-TA | Đất Đỏ, ngày 04 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Đạt
2. Thư ký phiên họp: Bà Châu Nguyễn Xuân Thu
Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tiến hành hiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 07/QĐ-TA ngày 26 tháng 02 năm 2020, đối với:
Họ và tên: Võ Văn S (A). Giới tính: Nam. (có mặt)
Sinh ngày 14/02/1990 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án: Không. Tiền sự: 02.
Con ông Võ Văn T (chết), bà Huỳnh Thị M.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Huỳnh Kim Thành, chức vụ: Chuyên viên - Phòng Thương binh và Xã hội huyện Đất Đỏ;
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ: Ông Nguyễn Minh Khuê-Kiểm sát viên;
3. Đại diện Công an xã B, huyện Đất Đỏ: Ông Bùi Minh Vũ, chức vụ: Công an viên;
5. Những người khác: Không có.
NHẬN THẤY:
Ngày 19/02/2020 Phòng lao động thương binh xã hội huyện Đất Đỏ có văn bản số 28/LĐTBXH đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Võ Văn S do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Ngày 06/02/2020 Công an xã A, huyện Đất Đỏ mời thử test đối với đối tượng Võ Văn S, đồng thời lập biên bản xét nghiệm chất ma túy và đề nghị trạm y tế xã A xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Võ Văn S; cùng ngày trạm y tế xã A thông báo kết quả đối tượng Võ Văn S có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Methamphetamine;
Tại Công an xã A, huyện Đất Đỏ, qua bản tường trình và biên bản ghi lời khai đối tượng S đã tự nhận có sử dụng trái phép chất ma túy đá;
Ý kiến Phòng Lao động thương binh, xã hội huyện Đất Đỏ: Đối tượng Võ Văn S nghiện ma túy nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn S, sinh năm 1999, thường trú ấp Ấp A, xã B, huyện C, thời hạn là 18 tháng.
Ý kiến người bị đề nghị: Tại bản tường trình và Biên bản ghi lời khai ngày 06/02/2020, đối tượng S xác nhận bản thân nghiện ma túy đá đúng như cơ quan chức năng xác định, hiện nay vẫn còn nghiện và cơ quan Công an lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ phát biểu:
-Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án:
+TAND huyện Đất Đỏ đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 7 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+TAND huyện Đất Đỏ thụ lý vụ việc đúng thời hạn và thông báo cho VKSND về việc thụ lý vụ việc đúng quy định tại Điều 8 và Điều 11 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+TAND huyện Đất Đỏ thực hiện việc phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+Thẩm phán triệu tập thành phần tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo đúng quy định tại Điều 17 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
+Thẩm phán, Thư ký thực hiện trình tự xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo đúng quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
-Về đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Võ Văn S; đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ.
XÉT THẤY:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến của người đại diện Phòng lao động-thương binh và xã hội, ý kiến của kiểm sát viên và ý kiến của người bị đề nghị, thấy rằng:
Về thời hiệu: Đối tượng Võ Văn S bị Công an xã A phát hiện và lập biên bản hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 06/02/2020, cùng ngày Công an xã A chuyển hồ sơ cho Công an xã B xử lý theo thẩm quyền; ngày 19/02/2020 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ có văn bản đề nghị đưa đối tượng S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền: Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ có công văn đề nghị nên theo khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính TAND huyện Đất Đỏ thụ lý xem xét, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về người bị đề nghị: Đối tượng Võ Văn S đã trên 18 tuổi, không có tiền án, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng giáo dục tại xã, phường, thị trấn và cai nghiện bắt buộc tháng 09/2018 do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện; nay Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng S là phù hợp quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về trình tự thủ tục:
Đối với cơ quan lập hồ sơ đề nghị: Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị theo quy định, ngày 10/02/2020 Công an xã B có thông báo số 01/TB-UBND thông báo cho đối tượng S biết; ngày 15/02/2020 đối tượng S đã đọc hồ sơ đề nghị đối với mình, gồm: Phiếu trả lời kết quả về việc xác nhận tình trạng nghiện ma túy, Biên bản vi phạm hành chính, bản tường trình về hành vi sử dụng chất ma túy trái phép, biên bản lấy lời khai, bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, Quyết định áp dụng và Quyết định đã chấp hành xong của UBND xã B, biên bản giao nhận giấy chứng nhận chấp hành xong giáo dục tại xã, phường, thị trấn của UBND xã B và bản cam kết. Ngày 15/02/2020 UBND xã B có văn bản số 01/UBND-CA gửi Trưởng phòng tư pháp huyện đề nghị kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ là phù hợp quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11 và khoản 1 Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với cơ quan kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị: Ngày 15/02/2020 Phòng tư pháp huyện Đất Đỏ nhận được văn bản và hồ sơ đề nghị do Công an xã B bàn giao; sau khi tiến hành kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị, ngày 18/02/2020 Trưởng phòng tư pháp huyện Đất Đỏ gửi toàn bộ hồ sơ đề nghị cho Trưởng Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ là đúng quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với cơ quan xem xét, quyết định chuyển hồ sơ đề nghị: Ngày 18/02/2020 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ nhận được hồ sơ đề nghị do Phòng tư pháp huyện bàn giao, ngày 19/02/2020 Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ chuyển hồ sơ đề nghị đến TAND huyện Đất Đỏ là trong thời hạn theo quy định tại điển a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ, khoản 1, 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng:
-Từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018 đối tượng S bị bị đưa vào quản lý tại địa phương theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 142/QĐ-UBND ngày 05/9/2018 và đến ngày 06/12/2018 đã chấp hành xong theo quyết định số 05/GCN-UBND của Chủ tịch UBND xã B, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
-Qúa trình bị lập hồ sơ đối tượng S tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi;
Theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính đối tượng S không có tình tiết tăng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ.
Về hình thức, biện pháp và thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định đối tượng Võ Văn S, sinh năm 1990, trên 18 tuổi là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 9/2018 và tiếp tục sử dụng vào ngày 02/2020; quá trình làm việc tại Công an đối tượng S tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đối tượng nhận thức được tác hại của ma túy và việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng muốn thỏa mãn ham muốn cá nhân nên đối tượng S vẫn sử dụng. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đối tượng S là xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước; mặt khác việc sử dụng trái phép chất ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của giống nòi và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác. Việc nhiều lần tái sử dụng cho thấy đối tượng S khó có thể cai nghiện trong một thời gian ngắn; do đó, cần tạo điều kiện cho đối tượng S một thời gian phù hợp để điều trị, cai nghiện được ma túy, tái hòa nhập cộng đồng.
Đề nghị của Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ về việc đưa đối tượng Võ Văn S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính nên được chấp nhận.
Về phát biểu của Kiểm sát viên: Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ là có căn cứ, nên ghi nhận.
Về quyền khiếu nại: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại theo quy định tại Điều 30, 31, 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 103, Điều 104, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;
Các Điều 3,4, 8, 9, 10, 11, 12, 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Các Điều 3, 30, 31, 32 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
[1].Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Văn S (A), sinh năm 1990; HKTT và chỗ ở hiện nay: ấp Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
[2].Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
[3].Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
[4].Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
[5].Phòng lao động-thương binh và xã hội huyện Đất Đỏ phối hợp với Công an huyện Đất Đỏ đưa đối tượng phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Đất Đỏ; -Phòng LTB&XH H.Đất Đỏ; -Công an H.Đất Đỏ; -Công an xã B; -Người bị đề nghị; -Lưu hồ sơ, VT. | Thẩm phán Nguyễn Duy Đạt |