vanban.org

Quyết định 08/2025/QĐ-TA

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 20/05/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Ngọc T1"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2025/QĐ-TAVị Thủy, ngày 20 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Võ Thị Ánh Trúc.

2. Thư ký phiên họp: Ông Trương Phước Lộc.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2025/BPXLHC ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Lê Ngọc T1; giới tính: Nam; sinh ngày: 13 tháng 10 năm 2001; số CCCD: 093201003406; Ngày cấp: 21/01/2023; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; tiền án: Ngày 14/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/5/2022 Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: Ngày 04/5/2021 Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền với số tiền 750.000 đồng; ngày 06/5/2021 Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, hình thức phạt tiền với số tiền 2.000.000 đồng; ngày 14/5/2021 Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng; ngày 08/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng; con ông Lê Thành V và bà Trần Thị T2; chưa có vợ và chưa có con. (Vắng mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thành C - Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 13/4/2025, Lê Ngọc T1 sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 17/4/2025 của Trạm Y tế thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang xác định Lê Ngọc T1 nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng Methamphetamine nhưng Lê Ngọc T1 từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Lê Ngọc T1 bị Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang lập Biên bản vi phạm số: 06/BB-VPHC ngày 16/4/2025. Ngày 22/4/2025, Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang ra thông báo số: 08/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1. Ngày 23/4/2025, Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang ban hành đề nghị số: 02/ĐN-CNBB gửi Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1. Tại phiên họp, đại diện Cơ quan đề nghị đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hậu Giang với thời gian từ 12 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký phiên họp và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Thống nhất với đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 thời gian 24 tháng.

Người bị đề nghị Lê Ngọc T1 vắng mặt tại phiên họp nên không thể hiện ý kiến.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

[1] Về hành vi vi phạm: Ngày 13/4/2025, Lê Ngọc T1 sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 17/4/2025 của Trạm Y tế thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang xác định Lê Ngọc T1 nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng Methamphetamine. Do Lê Ngọc T1 từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang lập biên bản vi phạm và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1. Ngày 23/4/2025, Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị đối với người nghiện có nơi cư trú ổn định: Đảm bảo quy định tại Điều 96, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; các Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;. Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ C1, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Do đó, hồ sơ đề nghị đầy đủ và đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị.

[3] Về tính chất, mức độ vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và nhận thức người bị đề nghị: Lê Ngọc T1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được xác định tình trạng nghiện ma túy. Về nhân thân, Lê Ngọc T1 đã từng bị kết án 02 lần, bị xử phạt vi phạm hành chính 03 lần và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng vào ngày 29/12/2023. Bản thân người bị đề nghị biết rõ tác hại của việc nghiện ma túy nhưng không có khả năng tự cai nghiện nên thống nhất cai nghiện bắt buộc.

[4] Tại phiên họp, đại diện Cơ quan đề nghị giữ nguyên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 thời gian từ 12 đến 24 tháng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thống nhất với đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 thời gian 24 tháng.

[5] Về sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị: Bản thân người bị đề nghị Lê Ngọc T1 là người có năng lực trách nhiệm hành chính; nghiện ma túy; thể hiện lối sống không lành mạnh; hành vi của người bị đề nghị gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc xem xét đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian là cần thiết. Cơ quan đề nghị đề nghị đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 24 tháng là có căn cứ. Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ.

[6] Căn cứ vào Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; các Điều 27, 28, 32 của Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ C1, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị trấn N, tỉnh Hậu Giang đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hậu Giang, địa chỉ: Số G, khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

4. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án. Thời hạn khiếu nại là 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày người bị đề nghị nhận được quyết định của Tòa án. Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn khiếu nại.

Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật. Thời hạn kiến nghị, kháng nghị là 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

5. Quyết định này, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ